Ban Tu Thư

Wednesday, August 30, 2006

Lớp giảng Thiền Học Ngày Thứ Tư 30 tháng 08, 2006.
Giảng sư: TT Tuệ Siêu

Niệm Từ Phạm Trú

Tài liệu trích từ "Thanh Tịnh Đạo" của Ngài Buddhaghosa. Thích Nữ Trí Hải dich từ bản Anh ngữ của Ngài Nanamoli.


I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.

Phạm trú hay brahma vihara là sự thể nhập vào trạng thái hiền thiện tách rời khỏi sự chi phối của vị ngã. Trong dục giới dù là thiện dục giới thì vẫn có liên hệ đến "tôi, ta" tức là yếu tính chủ quan của nhận thức. Chỉ có trong thiền sắc và vô sắc thì mới an trú vào đề mục mà không có sự đối đãi vị ngã. Tất nhiên không hoàn toàn đoạn phiền não nhưng nhất thời không bị chi phối bởi ngã tính. Chúng sanh trong dục giới dù không có thiền định vẫn có ít nhiều kinh nghiệm với trạng thái nầy qua sự khởi sinh và hàm dưỡng bốn trạng thái từ, bi, hỉ và xã. Phần tu tập tâm từ sẽ được nói một cách chi tiết làm kiểu mẫu cho những sự tu tập tâm bi, hỉ và xã về sau.

II. Nội dung chính

Xin đơn cử vài điểm tiêu biểu của bài học hôm nay?

Bước đầu tiên là từ bỏ sân hận bằng sự thấy lợi ích của nhẫn nại

1. Bốn phạm trú được kể là những đề mục thiền kế tiếp những đề mục tùy niệm kể như đề mục thiền (Ch.III, đoạn 105). Những đề mục này là Từ Bi Hỷ Xả. Một vị thiền giả muốn tu tập trước hết đề mục Từ, nếu vị ấy là người sơ cơ, thì phải trừ khử những chướng ngại và học đề tài thiền. Rồi, sau khi ăn xong, qua cơn chóng mặt sau bữa ăn, vị ấy nên ngồi thoải mái tại một chổ khuất nẻo. Ðể bắt đầu, hành giả nên quán sát sự nguy hiểm trong sân hận và sự lợi lạc trong kham nhẫn.

2. Tại sao? Bởi vì cần phải từ bỏ sân, đạt đến an nhàn trong sự tu tập đề mục thiền này, mà vị ấy không thể từ bỏ những nguy hiểm nếu không thấy được chúng và không thể đạt đến những lợi lạc nếu vị ấy không biết.

Bây giờ, nguy hiểm trong sân hận có thể được thấy mô tả trong các kinh như: "Này chư hiền, khi một người nổi sân, nó là miếng mồi cho sân, tâm nó bị ám bởi sân nó giết hại chúng sanh..." (A. i,216). Và lợi ích trong sự an nhẫn cần được hiểu theo sự mô tả trong các kinh như:

"Chư Phật dạy, không pháp nào cao hơn nhẫn nhục,
"Và không niết bàn nào cao hơn kham nhẫn" (D. ii, 49; Dh. 184)

"Không ác ý, nhẫn chịu
phỉ báng, đánh, hình phạt,
"Lấy nhẫn làm quân lực,
Ta gọi Bà-la-môn." (Dh. 399)

"Không có pháp nào cao cả hơn nhẫn nhục" (S. i, 222)

3. Rồi hành giả nên khởi sự tu tập từ tâm vì mục đích tách rời tâm khỏi sân đã đuợc thấy là nguy hiểm, và đưa tâm đến nhẫn nhục đã được biết là lợi ích.

Nên biết trải rộng tâm từ đến hạng người nào trong bước đầu tiên

Nhưng khi khởi sự, hành giả cần biết rằng, lúc ban đầu tâm từ nên được trải đến một hạng người nào, mà không đến hạng nào.

4. Vì tâm từ lúc đầu không nên trải đến 4 hạng người sau đây: người mà ta ghét hay có ác cảm sẵn, người mà ta rất yêu mến, người ta không ưa không ghét, và người ta thù. Và cũng không nên trải tâm từ đặc biệt là đến kẻ khác phái hay đến một người đã chết.

5. Vì lý do nào mà ta không nên trải tâm từ đến những hạng trên? Ðể một người khả ố vào địa vị một người mến thương thì mệt lòng. Ðể một người rất thân vào địa vị một người dửng dưng cũng mệt; và nếu một bất hạnh nhỏ nào xảy đến cho người ấy, thì hành giả gần như muốn khóc. Ðể một người dửng dưng vào địa vị một người khả kính, khả ái thì rất mệt. Còn nếu nhớ đến một kẻ thù thì hành giả sẽ nổi sân. Vì những lý do đó mà lúc đầu không nên trải tâm từ đến những hạng người ấy.

6. Và nếu hành giả trải tâm từ đặc biệt đến người khác phái, thì tham dục khởi lên nơi hành giả do người ấy làm nguồn cảm hứng. Có một vị trưởng lão thường đến khất thực tại nhà nọ. Một người cư sĩ bạn của người con trai trong gia đình ấy hỏi trưởng lão: "Bạch đại đức ta nên trải tâm từ đến người nào?" Vị trưởng lão trả lời: "Ðến một người ta thương mến". Người cư sĩ ấy yêu mến vợ con anh ta. Do tu tập từ tâm trải đến nàng, vị ấy đấm vào vách tường suốt đêm ấy. Sau khi thọ bát quan trai giới, vị ấy khóa cửa phòng, ngồi trên một tọa cụ để tu tập quán tâm từ. Bị mù quáng bởi tham dục khởi lên dưới lớp vỏ từ tâm, anh toan đi đến thăm người vợ, và vì không trông thấy cửa nên vị ấy đập vào vách để thoát ra dù có phải làm đổ tường. (Pm.286) Do vậy, không nên trải tâm từ đặc biệt đến kẻ khác phái.

7. Còn nếu hành giả trải tâm từ đến một người đã chết, thì vị ấy không đạt được an chỉ hay định cận hành gì cả. Như có một tỷ kheo trẻ khởi sự trải tâm từ đến vị giáo thọ sư là đối tượng. Tâm từ của vị ấy không tiến triển chút nào cả. Vị ấy đi đến một vị Thượng tọa tỷ kheo và bạch: "Bạch Ðại đức, con rất thường đắc thiền nhờ quán tâm từ, mà bây giờ quán mãi không đắc, là tại sao?" Vị trưởng lão dạy:"Hiền giả hãy tìm tướng ấy đi." (nghĩa là đối tượng của thiền quán). Vị tỷ kheo đi tìm, và được biết vị giáo thọ sư đã chết. Ông liền tiếp tục tu tập trải tâm từ đến một đối tượng khác, và đắc định. Vì thế không nên trải tâm từ đến một người đã chết.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Xin cho biết vài chi tiết về voi Nàlagiri ? Savatthi hay Xá Vệ được biết thế nào trong kinh Phật?


Nàlàgiri là một chiến tượng dõng mãnh của vua Ajàsattu (A Xà Thế). Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) mượn thớt voi nầy rồi phục rượu say thả ra đường khi Đức Thế Tôn đi khất thực mong giết hại Ngài. Đức Phật dùng tâm từ vô lượng thuần hoá voi Nàlàgiri. Câu chuyện được ghi lại trong kinh Phật Lực Cảm Thắng trở thành một trong tám sự kiện trọng đại tán dương uy lực Phật là đề mục tăng trưởng tín tâm và năng lực hộ trì (paritta)

Savatthi (Xá vệ) là kinh đô của vương quốc Kosala (Kiều Tát La). Đây là đất thần kinh trù phú với khí hậu tương đối ôn hoà. Một thời là trung tâm văn hoá và quyền lực trong lưu vực sông hằng. Trong thời Phật trụ thế, Savatthi cai trị bởi vua Pasenadi (Ba Tư Nặc). Tại đây có hai ngôi chùa danh tiếng là Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá) và Pubbaràma (Đông Phương tự) với hai đại cư sĩ của Đức Phật là Cấp Cô Độc và Visàkhà.

IV. Chữ và nghĩa

Vô lượng tâm hay phạm trú là hay từ giống nhau hay khác nhau?


Phạm trú là từ dịch sát nghĩa của Phạm ngữ brahma vihara nghĩa là thể nhập vào trạng thái thanh tịnh. Đúng ra chữ 'phạm" là phiên âm của từ brahma mang nhiều ý nghĩa. Phạm có nghĩa là trong sạch, đại thể, không biên giới. Chính từ nghĩa nầy nên dịch là vô lượng tâm. Từ nấy đặc biệt được dùng hết sức quan trọng trong Bà la môn giáo. Một số học giả tin rằng ý nghĩa của chữ "đại thừa" sau nầy cũng bắt nguồn từ chữ brahma nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến "đại bi tâm"

V. Học và hỏi

Người "hiền" quá có sống nổi giữa cuộc đời đầy tranh chấp nầy không?


Tùy vào định nghĩa chữ "hiền". Hiền hoà là không hại ai thì không hẳn là để người khác hại mình. Hiền có nghĩa là không lanh lợi thì không đúng để diễn tả người nhân từ. Ông Cấp cô độc là người rất nhân từ nhưng không phải là "cục bột". Một người có "bản lãnh sống" vẫn có thể có một tấm lòng nhân hậu.

V. Đố Vui

1. Câu nào dưới đây diễn đúng với Phật Pháp về tâm từ:

a. Sự lân mẫn mong cho muôn loài được an lạc
b. Trạng thái tâm hoà dịu mát mẽ với tha nhân
c. Tâm bao dung không lấy điều dị biệt để đối xử thiên vị
d. Cả ba điều trên

2. Chủ trương từ bi có khuyến khích sự lợi dụng của người khác không?

a. Đúng vậy những xã hội bao dung sanh nhiều tệ đoan
b. Chỉ sợ mình không có lòng tốt đừng sợ người đời không được tốt
c. Sự đàn áp không dung tình sẽ khiến con người bớt tánh lợi dụng
d. Người ta khi được thương yêu sẽ tốt hơn

3. Nghe chuyện kể "Phật mũi đen" và trả lời câu đố

0 Comments:

Post a Comment

<< Home