Lớp A Tỳ Đàm Ngày Thứ Sáu 01 tháng 09, 2006
Giảng sư: TK Tuệ Siêu
Tam Đề Nội Phần
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Tam đề nội phần: Tất cả Pháp Nội Phần (Ajjhattā dhammā) . Tất cả Pháp Ngoại phần (Bahiddhā dhammā). Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần (Ajjhatta bahiddhā dhammā)
Tên đầu đề lấy pháp đầu trong ba pháp (chiết bán), không bao gồm hết pháp chân đế (hữu dư). Chủ quan và khách quan luôn ảnh hưởng lớn đến nhận thức. Chủ quan thường liên hệ đến ngã tính, và từ đó, ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống. Một tính xấu tìm thấy ở ngưòi khác thường bị chỉ trích nhưng nếu là tánh xấu của mình là chuyện khác. Phiền não ngã mạn được A Tỳ Đàm định nghĩa là so sánh giữa mình và người. Sở chấp nhân ngã bĩ thử cũng từ đấy khởi sinh.
II. Nội dung chính
Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy?
Nội và ngoại phần không nhất thiết nằm trong ý niệm không gian
Không gian chỉ có thể nói trong vật chất (sắc pháp). Những pháp ở đây gồm cả tâm (danh pháp). Khi nói đến danh pháp thì không nói là ở vị trí nầy hay khoảng cách kia. Ý niệm về nội giới và ngoại giới ở đây hoàn toàn không thuộc không gian.
Có những phạm trù bao gồm cả nội và ngoại phần
Những tạp niệm nhân ngã bĩ thử đến từ sự phân biệt ta với người. A Tỳ Đàm khẳng định nếu nhìn từ góc cạnh nào đó thì tất cả pháp hữu vi có thể lãnh hội như pháp nội và ngoài phần. Ở kinh tạng có những Phật ngôn gần với ý nghĩa nầy nhất khi Đức Thế Tôn dạy: nầy các tỳ kheo ta tuyên bố trong tấm thân sự khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ.
Khi Niết Bàn được minh định là ngoại phần thì là đảo lộn nhiều giá trị tự hữu
Nói đến vô dư niết bàn thì nhiều luận gia xem đó là một tự hữu nếu không chấp nhận đó là một cõi. Niết bàn tại tâm là một thí dụ. Khi nói Niết Bàn là pháp ngoại phần tất nhiên phủ nhận tất cả giá trị tự hữu. Đây là điều tạo nên tranh luận lớn mà đức Phật từng dạy không cần thiết để biết qua sự im lặng trước câu hỏi Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết.
III. Đề Pháp và Chi Pháp
Những pháp nào được liệt kê trong ba pháp của thể tài nầy?
i. Tất cả Pháp Nội Phần (Ajjhattā dhammā) là những Pháp phát sinh trong tự thân nầy.
Tất cả Pháp Nội Phần là:
a) Tâm: 121 Tâm (nói chung)
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh
c) Sắc pháp: 28 sắc pháp
ii. Tất cả Pháp Ngoại phần (Bahiddhā dhammā) là những Pháp chơn đế ngoài ra Ngũ uẩn bên trong tức là Ngũ uẩn bên ngoài và Níp-Bàn.
Tất cả Pháp Ngoại phần là:
a) Tâm: 121 Tâm (bên ngoài).
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh(bên ngoài).
c) Sắc pháp: 28 Sắc pháp (bên ngoài).
d) Níp-Bàn.
iii. Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần (Ajjhatta bahiddhā dhammā) nghĩa là những pháp Chơn Ðế hữu vi có sanh trong tự thân và ngoài ra tự thân, tức ám chỉ Ngũ uẩn nói chung nếu đứng về chủ quan thì là Nội Phần, và đây hạn chế không lấy Chơn đế vô vi Níp- Bàn.
Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần là:
a) Tâm121 thứ Tâm (nói chung)
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh (nói chung)
c) Sắc pháp: 28 Sắc pháp (nói chung)
IV. Chữ và nghĩa (TT TS)
Chủ thể, khách thể có khác với năng duyên và sở duyên không?
Chủ thể và khách thể có nghiã là vai trò bên ngoài và bên trong; chủ thể và khách thể có thể là độc lập không liên quan gì với nhau
Năng duyên và sở duyên có nghĩa là một yếu tố trợ giúp và một yếu tố được trợ giúp,
cái này trợ cái kia sanh ra, gọi cái này là năng duyên cái kia là sở duyên. Năng và sở có quan hệ trong phạm trù nhân quả. Do đó, danh từ chủ thể - khách thể và năng duyên - sở duyên khác nhau, không giống nhau.
V. Học và hỏi ( TT GÐ)
Tại sao trong thiền học Tứ Niệm Xứ lại nhấn mạnh mệnh đề: lấy thân quán thân, lấy thọ quán thọ, lấy tâm quán tâm, lấy pháp quán pháp.
Giảng sư: TK Tuệ Siêu
Tam Đề Nội Phần
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Tam đề nội phần: Tất cả Pháp Nội Phần (Ajjhattā dhammā) . Tất cả Pháp Ngoại phần (Bahiddhā dhammā). Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần (Ajjhatta bahiddhā dhammā)
Tên đầu đề lấy pháp đầu trong ba pháp (chiết bán), không bao gồm hết pháp chân đế (hữu dư). Chủ quan và khách quan luôn ảnh hưởng lớn đến nhận thức. Chủ quan thường liên hệ đến ngã tính, và từ đó, ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống. Một tính xấu tìm thấy ở ngưòi khác thường bị chỉ trích nhưng nếu là tánh xấu của mình là chuyện khác. Phiền não ngã mạn được A Tỳ Đàm định nghĩa là so sánh giữa mình và người. Sở chấp nhân ngã bĩ thử cũng từ đấy khởi sinh.
II. Nội dung chính
Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy?
Nội và ngoại phần không nhất thiết nằm trong ý niệm không gian
Không gian chỉ có thể nói trong vật chất (sắc pháp). Những pháp ở đây gồm cả tâm (danh pháp). Khi nói đến danh pháp thì không nói là ở vị trí nầy hay khoảng cách kia. Ý niệm về nội giới và ngoại giới ở đây hoàn toàn không thuộc không gian.
Có những phạm trù bao gồm cả nội và ngoại phần
Những tạp niệm nhân ngã bĩ thử đến từ sự phân biệt ta với người. A Tỳ Đàm khẳng định nếu nhìn từ góc cạnh nào đó thì tất cả pháp hữu vi có thể lãnh hội như pháp nội và ngoài phần. Ở kinh tạng có những Phật ngôn gần với ý nghĩa nầy nhất khi Đức Thế Tôn dạy: nầy các tỳ kheo ta tuyên bố trong tấm thân sự khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ.
Khi Niết Bàn được minh định là ngoại phần thì là đảo lộn nhiều giá trị tự hữu
Nói đến vô dư niết bàn thì nhiều luận gia xem đó là một tự hữu nếu không chấp nhận đó là một cõi. Niết bàn tại tâm là một thí dụ. Khi nói Niết Bàn là pháp ngoại phần tất nhiên phủ nhận tất cả giá trị tự hữu. Đây là điều tạo nên tranh luận lớn mà đức Phật từng dạy không cần thiết để biết qua sự im lặng trước câu hỏi Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết.
III. Đề Pháp và Chi Pháp
Những pháp nào được liệt kê trong ba pháp của thể tài nầy?
i. Tất cả Pháp Nội Phần (Ajjhattā dhammā) là những Pháp phát sinh trong tự thân nầy.
Tất cả Pháp Nội Phần là:
a) Tâm: 121 Tâm (nói chung)
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh
c) Sắc pháp: 28 sắc pháp
ii. Tất cả Pháp Ngoại phần (Bahiddhā dhammā) là những Pháp chơn đế ngoài ra Ngũ uẩn bên trong tức là Ngũ uẩn bên ngoài và Níp-Bàn.
Tất cả Pháp Ngoại phần là:
a) Tâm: 121 Tâm (bên ngoài).
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh(bên ngoài).
c) Sắc pháp: 28 Sắc pháp (bên ngoài).
d) Níp-Bàn.
iii. Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần (Ajjhatta bahiddhā dhammā) nghĩa là những pháp Chơn Ðế hữu vi có sanh trong tự thân và ngoài ra tự thân, tức ám chỉ Ngũ uẩn nói chung nếu đứng về chủ quan thì là Nội Phần, và đây hạn chế không lấy Chơn đế vô vi Níp- Bàn.
Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần là:
a) Tâm121 thứ Tâm (nói chung)
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh (nói chung)
c) Sắc pháp: 28 Sắc pháp (nói chung)
IV. Chữ và nghĩa (TT TS)
Chủ thể, khách thể có khác với năng duyên và sở duyên không?
Chủ thể và khách thể có nghiã là vai trò bên ngoài và bên trong; chủ thể và khách thể có thể là độc lập không liên quan gì với nhau
Năng duyên và sở duyên có nghĩa là một yếu tố trợ giúp và một yếu tố được trợ giúp,
cái này trợ cái kia sanh ra, gọi cái này là năng duyên cái kia là sở duyên. Năng và sở có quan hệ trong phạm trù nhân quả. Do đó, danh từ chủ thể - khách thể và năng duyên - sở duyên khác nhau, không giống nhau.
V. Học và hỏi ( TT GÐ)
Tại sao trong thiền học Tứ Niệm Xứ lại nhấn mạnh mệnh đề: lấy thân quán thân, lấy thọ quán thọ, lấy tâm quán tâm, lấy pháp quán pháp.
Ðáp: Trong Trung Bộ Kinh bài kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật đã khẳng định: "Tứ Niệm Xứ là con đường độc nhất" (Eka yāno maggo) đưa đến sự giác ngộ.
Thiền học bao gồm cả thiền chỉ (Samatha) và thiền quán (Vipassanā).
Thiền chỉ tịnh (Samatha) là chú niệm trên một đề mục. Thiền quán(Vipassanā) là thẩm sát Tam Tướng (Vô thường - khổ - vô ngã) dựa trên Danh Sắc.
Được gọi là một chúng sanh là do năm uẩn (Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn và hành uẩn) cấu hợp thành mà nói tóm gọn là Danh và Sắc. Vị hành giả tu tập thiền Tứ Niệm Xứ là nhìn lại sự biến đổi về vật chất cũng như tinh thần của tự thân.
- Quán thân trên thân là lấy sắc uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác với sự Vô thường - khổ - vô ngã của sắc uẩn.
- Quán thọ trên thọ là lấy thọ uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác thấy sự Vô thường - khổ - vô ngã khi tiếp xúc cảnh phát khởi thọ lạc, thọ khổ, thọ ưu, thọ hỷ, thọ xã.
- Quán tâm trên tâm là lấy thức uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác thấy sự Vô thường - khổ - vô ngã khi tâm hữu tham, vô tham, hữu sân, vô sân, hữu si, vô si.
- Quán pháp trên pháp là lấy tưởng uẩn và hành uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác thấy sự Vô thường - khổ - vô ngã của pháp hữu vi. Thường xuyên suy niệm về Bốn đế, Thất giác chi ...
Vị hành giả quán tưởng thấy sự tạm bợ của Sắc pháp, thấy sự biến chuyển thay đổi của Danh pháp từ đó tu tập chuyên cần, thuần thục sẽ đạt đến đạo quả.
Đức Phật đã tuyên bố trong Trung bộ kinh: "Nhờ hiểu biết như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Ta đã biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành. Việc cần làm đã làm. Không còn trở lại trạng thái này nữa". Này Aggivessana, Đó là Minh thứ ba, Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt minh sanh, mê tối diệt ánh sáng, do ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần".
VI. Đố Vui
1. Cụm từ nào dưới đây là chi pháp của đề pháp nội phần (ajjhattā dhammā) ?
a. Nội tâm.
b. Nội thân.
c. Nội sắc.
d. Nội thần kinh.
2. Níp bàn là pháp gì trong nhóm đề pháp dưới đây:
a. Pháp nội phần (ajjhattā dhamma).
b. Pháp ngoại phần (bahiddha dhamma).
c. Pháp nội ngoại phần (ajjhattabahiddha dhamma).
d. Pháp ngoại nội phần (bahiddhajjhatta dhamma).
3. Có pháp nào không thuộc nội phần cũng không thuộc ngoại phần chăng ?
a. Pháp chế định.
b. Pháp vô sắc.
c. Pháp vô tưởng.
d. Không có.
0 Comments:
Post a Comment
<< Home