Lớp Luật Nghi Cư Sĩ. Ngày Thứ Bảy 02 tháng 09, 2006
Giảng sư: ÐÐ Pháp Ðăng
Thiện hữu, ác hữu
Tài liệu: Trích "Cư sĩ giới pháp". Tỳ khưu Giác Giới (Bodhisīla Bhikkhu).
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Thân cận dẫn đến ảnh hưởng, tiêm nhiễm. Dù trong đạo hay ngoài đời thì bạn lành vẫn là trợ duyên quan trọng cho sự tăng tiến. Đời sống người cư sĩ vốn tiếp cận với muôn người. Biết chọn bạn kết giao là yếu tố thành công. Đức Phật đặc biệt có những lời dạy soi sáng về điểm nầy.
II. Nội dung chính
Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy?
BỐN HẠNG NGỤY BẰNG HỮU, HẠNG BẠN GIẢ DỐI, KHÔNG PHẢI BẠN TỐT
Giảng sư: ÐÐ Pháp Ðăng
Thiện hữu, ác hữu
Tài liệu: Trích "Cư sĩ giới pháp". Tỳ khưu Giác Giới (Bodhisīla Bhikkhu).
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Thân cận dẫn đến ảnh hưởng, tiêm nhiễm. Dù trong đạo hay ngoài đời thì bạn lành vẫn là trợ duyên quan trọng cho sự tăng tiến. Đời sống người cư sĩ vốn tiếp cận với muôn người. Biết chọn bạn kết giao là yếu tố thành công. Đức Phật đặc biệt có những lời dạy soi sáng về điểm nầy.
II. Nội dung chính
Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy?
BỐN HẠNG NGỤY BẰNG HỮU, HẠNG BẠN GIẢ DỐI, KHÔNG PHẢI BẠN TỐT
Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:
1- Bạn vụ lợi (Aññadatthuhara), là người có tính tham lam: gặp gì cũng muốn lấy, cho ít đòi hỏi nhiều, vì sợ mới làm theo, giao du vì mưu lợi.
2- Bạn khẩu biện (Vacīparama), là người chỉ biết nói giỏi: tỏ thân tình việc đã qua, tỏ thân tình việc chưa đến, mua chuộc tình cảm bằng lời ngọt, khi bạn hữu sự thì tỏ ra bất lực.
3- Bạn dua nịnh (Anuppiyabhā.nī), là người nịnh bợ ton hót: đồng tình việc làm xấu, bất đồng việc làm tốt, ca tụng ở trước mặt, xuyên tạc phía sau lưng.
4- Bạn trụy lạc (Apāyasahāya), là người tính hư hỏng: say sưa rượu chè, du hành chơi đêm, hoang dâm đàng điếm, đam mê cờ bạc. -- D.III.185.
BỐN HẠNG CHÂN BẰNG HỮU (SUHADAMITTA), HẠNG BẠN CHÂN TÌNH, HẠNG BẠN TỐT
Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:
1- Bạn tán trợ (Upakārakamitta), là người bạn giúp đỡ nhau: bảo vệ nhau khi bất cẩn; giữ tài sản của bạn sơ suất, làm chỗ nương tựa khi có sợ hãi, nhiệt tình giúp đỡ khi bạn bè hữu sự.
2- Bạn đồng cam cộng khổ (Samānasukhadukkhamitta), là người chung vui chung khổ: tỏ chuyện thầm kín của mình, giữ kín chuyện bí mật của bạn bè, không bỏ nhau khi gặp hoạn nạn, dám hy sinh vì bạn.
3- Bạn khuyến lợi (Atthakkhāyīmitta), là người bạn khuyên nhắc lợi ích: can ngăn điều ác, khuyến khích điều thiện, nói cho nghe pháp chưa từng nghe, chỉ bày cho biết con đường thiên giới.
4- Bạn thân tình (Anukampakamittta), là người bạn chí cốt tình nghĩa: không vui khi bạn bè gặp nạn, vui mừng khi bạn bè gặp may, phản đối người nói xấu bạn, khích lệ người khen tụng bạn. -- D. III. 187.
III. Người Xưa Chốn Cũ
Visàkhà là người thế nào? Pubbaràma là ngôi chùa ở đâu?
Bà Visàkhà sanh trưởng tại thành Bhaddiya, trong vương quốc Anga. Cha bà là Dhananjaya, một triệu phú và là quan giữ kho của nhà vua và mẹ bà là Sumanadevi. Lúc vừa lên bảy, bà nhiệt thành lắng nghe những lời giảng giải rõ ràng và trong sáng của Đức Bổn Sư và chứng đắc tầng thánh thứ nhất (nhập lưu). Theo tập tục thời bấy giờ, vào năm lên mười sáu tuổi bà được gả cho Punnavaddhana, con của quan giữ kho tên Migara. Nhờ bà mà toàn thể gia quyến nhà chồng trước đây là tín đồ của giáo phái Nigantha đều theo về với Đức Phật, và ông cha chồng chứng đắc Tu Đà Hườn. Vì lẽ ấy mà bà được tôn vinh là ‘Mẹ của Migara’, mặc dầu bà chỉ là con dâu.
Bà Visàkhà nổi danh là vị nữ thí chủ quan trọng nhất của Đức Phật và tăng chúng. Bà cho xây dựng ngôi chùa Pubbàràma rộng lớn và dâng đến Đức Phật và chư Tăng. Niềm tin và lòng thỏa thích phục vụ đạo pháp của bà thật vô bờ bến.
Pubbàràmà hay Đông Phương Tự là ngôi chùa do bà thí chủ Visàkhà xây ở phía đông cổng thành Sàvatthi để dâng cúng đến Đức Phật và chư Tăng. Ngôi chùa được biết nhiều với tên Migaramatupàsàda (Lộc Mẫu giảng đường). Trong suốt thời gian Đức Phật ở Sàvatthi, Ngài xử dụng luân phiên hai ngôi chùa Kỳ Viên Tự và Đông Phương Tự. Ban đêm Ngài nghỉ tại chùa Kỳ Viên, ban ngày vào buổi trưa Ngài trú tại Lộc mẫu giảng đường hoặc ngược lại. Chư Tăng ở tại hai ngôi chùa , chỉ riêng Đức Phật luân phiên như vậy. Khoảng cách giữa hai ngôi chùa Kỳ Viên và Đông phương tự không xa, ước tính cách thành Xá Vệ 100m và Lộc mẫu giảng đường nằm cách khoảng 150m. Đức Phật nhập hạ sáu lần ở ngôi chùa này.
IV. Chữ và nghĩa ( Chờ câu trả lời của TT Tuệ Siêu)
Thế nào là bạn (mitta) trong định nghĩa của kinh điển?
Trong Phật học nói riêng và văn học Ấn nói chung thì quan niệm về bằng hữu là một đề tài quan trọng. Chữ mitta có nghĩa đen là thân thiện. Nói rộng hơn là người nào dành cho chúng ta sự thân tình và lợi ích thì đúng nghĩa là bạn. Nói theo Phật Pháp là người nên thân cận. Trong văn hoá Ấn thì một vị thầy, một người mẹ, một quí nhơn gặp được trên đường tất cả đều có thể gọi là thiện hữu. Thường gần bạn lành (kalyāna-mitta) là một yếu tố quan trọng trong sự tu tập Phạn ngữ mettà (từ tâm) có liên hệ với chữ mitta (bạn)
V. Học và hỏi
Nếu người Phật tử chỉ thận cận bạn tốt thì ai cứu độ người xấu?
Cảm hoá người xấu và thận cận người xấu là hai việc khác nhau. Thân cận hay giao du nói lên sự ưa thích, xu hướng như câu "mã tầm mã, ngưu tầm ngưu". Tất nhiên có một số người đủ bản lãnh để "gần mực mà không đen" nhưng với đa số sự tiêm nhiễm là điều khó tránh. Có rất nhiều điều mà mỗi cá nhân có thể làm cho cuộc đời nhưng tự thân phải có đủ nghị lực, sáng suốt để là "bàn tay lành lặn không sợ thuốc độc". Với phần đông thì sự an lạc, vô sự bản thân là điều kiện tốt để cống hiến cho đời hơn là những rắc rối phiền phức.
V. Đố Vui
1. Xem cha mẹ, thầy tổ như bạn có phải lại điều bất kính chăng?
a. Đúng vậy chỉ có người ngang với mình mới là bạn được
b. Không hẳn. Nếu bạn được nghĩa là người đối với mình bằng lòng từ và sự chân thật
d. Đúng là điều nên phân biệt như Đức Phật dạy cha mẹ là phương đông, bằng hữu là phương tây.
c. Xem nhau là bạn thì vui hơn
2. Tai sao thân cận bạn lành là điều quan trọng trong sự tu tập?
a. Vì tự lực không đủ mà phải có tha lực
b. Vì bạn lành giúp ta có cái nhìn khách quan về bản thân
c. Vì bạn lành có ảnh hưởng tốt đối với hành vi, tư tưởng của mình
d. b và c đúng
3. Đức Phật ca ngợi đời sống độc cư lại nói rằng thân cận thiện hữu là toàn phần của Phạm hạnh như vậy Ngài có mâu thuẫn chăng?
a. Không mâu thuẩn vì một điều dạy cho hàng thượng căn, một điều dạy cho hàng độn căn
b. Mâu thuẩn. Có lẽ kinh điển bị tam sao thất bổn
c. Không mâu thuẩn. Thân cận bạn lành không hẳn là từ bỏ độc cư
d. Thích điều nào thì làm điều đó không có gì là mâu thuẫn
.
1- Bạn vụ lợi (Aññadatthuhara), là người có tính tham lam: gặp gì cũng muốn lấy, cho ít đòi hỏi nhiều, vì sợ mới làm theo, giao du vì mưu lợi.
2- Bạn khẩu biện (Vacīparama), là người chỉ biết nói giỏi: tỏ thân tình việc đã qua, tỏ thân tình việc chưa đến, mua chuộc tình cảm bằng lời ngọt, khi bạn hữu sự thì tỏ ra bất lực.
3- Bạn dua nịnh (Anuppiyabhā.nī), là người nịnh bợ ton hót: đồng tình việc làm xấu, bất đồng việc làm tốt, ca tụng ở trước mặt, xuyên tạc phía sau lưng.
4- Bạn trụy lạc (Apāyasahāya), là người tính hư hỏng: say sưa rượu chè, du hành chơi đêm, hoang dâm đàng điếm, đam mê cờ bạc. -- D.III.185.
BỐN HẠNG CHÂN BẰNG HỮU (SUHADAMITTA), HẠNG BẠN CHÂN TÌNH, HẠNG BẠN TỐT
Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:
1- Bạn tán trợ (Upakārakamitta), là người bạn giúp đỡ nhau: bảo vệ nhau khi bất cẩn; giữ tài sản của bạn sơ suất, làm chỗ nương tựa khi có sợ hãi, nhiệt tình giúp đỡ khi bạn bè hữu sự.
2- Bạn đồng cam cộng khổ (Samānasukhadukkhamitta), là người chung vui chung khổ: tỏ chuyện thầm kín của mình, giữ kín chuyện bí mật của bạn bè, không bỏ nhau khi gặp hoạn nạn, dám hy sinh vì bạn.
3- Bạn khuyến lợi (Atthakkhāyīmitta), là người bạn khuyên nhắc lợi ích: can ngăn điều ác, khuyến khích điều thiện, nói cho nghe pháp chưa từng nghe, chỉ bày cho biết con đường thiên giới.
4- Bạn thân tình (Anukampakamittta), là người bạn chí cốt tình nghĩa: không vui khi bạn bè gặp nạn, vui mừng khi bạn bè gặp may, phản đối người nói xấu bạn, khích lệ người khen tụng bạn. -- D. III. 187.
III. Người Xưa Chốn Cũ
Visàkhà là người thế nào? Pubbaràma là ngôi chùa ở đâu?
Bà Visàkhà sanh trưởng tại thành Bhaddiya, trong vương quốc Anga. Cha bà là Dhananjaya, một triệu phú và là quan giữ kho của nhà vua và mẹ bà là Sumanadevi. Lúc vừa lên bảy, bà nhiệt thành lắng nghe những lời giảng giải rõ ràng và trong sáng của Đức Bổn Sư và chứng đắc tầng thánh thứ nhất (nhập lưu). Theo tập tục thời bấy giờ, vào năm lên mười sáu tuổi bà được gả cho Punnavaddhana, con của quan giữ kho tên Migara. Nhờ bà mà toàn thể gia quyến nhà chồng trước đây là tín đồ của giáo phái Nigantha đều theo về với Đức Phật, và ông cha chồng chứng đắc Tu Đà Hườn. Vì lẽ ấy mà bà được tôn vinh là ‘Mẹ của Migara’, mặc dầu bà chỉ là con dâu.
Bà Visàkhà nổi danh là vị nữ thí chủ quan trọng nhất của Đức Phật và tăng chúng. Bà cho xây dựng ngôi chùa Pubbàràma rộng lớn và dâng đến Đức Phật và chư Tăng. Niềm tin và lòng thỏa thích phục vụ đạo pháp của bà thật vô bờ bến.
Pubbàràmà hay Đông Phương Tự là ngôi chùa do bà thí chủ Visàkhà xây ở phía đông cổng thành Sàvatthi để dâng cúng đến Đức Phật và chư Tăng. Ngôi chùa được biết nhiều với tên Migaramatupàsàda (Lộc Mẫu giảng đường). Trong suốt thời gian Đức Phật ở Sàvatthi, Ngài xử dụng luân phiên hai ngôi chùa Kỳ Viên Tự và Đông Phương Tự. Ban đêm Ngài nghỉ tại chùa Kỳ Viên, ban ngày vào buổi trưa Ngài trú tại Lộc mẫu giảng đường hoặc ngược lại. Chư Tăng ở tại hai ngôi chùa , chỉ riêng Đức Phật luân phiên như vậy. Khoảng cách giữa hai ngôi chùa Kỳ Viên và Đông phương tự không xa, ước tính cách thành Xá Vệ 100m và Lộc mẫu giảng đường nằm cách khoảng 150m. Đức Phật nhập hạ sáu lần ở ngôi chùa này.
IV. Chữ và nghĩa ( Chờ câu trả lời của TT Tuệ Siêu)
Thế nào là bạn (mitta) trong định nghĩa của kinh điển?
Trong Phật học nói riêng và văn học Ấn nói chung thì quan niệm về bằng hữu là một đề tài quan trọng. Chữ mitta có nghĩa đen là thân thiện. Nói rộng hơn là người nào dành cho chúng ta sự thân tình và lợi ích thì đúng nghĩa là bạn. Nói theo Phật Pháp là người nên thân cận. Trong văn hoá Ấn thì một vị thầy, một người mẹ, một quí nhơn gặp được trên đường tất cả đều có thể gọi là thiện hữu. Thường gần bạn lành (kalyāna-mitta) là một yếu tố quan trọng trong sự tu tập Phạn ngữ mettà (từ tâm) có liên hệ với chữ mitta (bạn)
V. Học và hỏi
Nếu người Phật tử chỉ thận cận bạn tốt thì ai cứu độ người xấu?
Cảm hoá người xấu và thận cận người xấu là hai việc khác nhau. Thân cận hay giao du nói lên sự ưa thích, xu hướng như câu "mã tầm mã, ngưu tầm ngưu". Tất nhiên có một số người đủ bản lãnh để "gần mực mà không đen" nhưng với đa số sự tiêm nhiễm là điều khó tránh. Có rất nhiều điều mà mỗi cá nhân có thể làm cho cuộc đời nhưng tự thân phải có đủ nghị lực, sáng suốt để là "bàn tay lành lặn không sợ thuốc độc". Với phần đông thì sự an lạc, vô sự bản thân là điều kiện tốt để cống hiến cho đời hơn là những rắc rối phiền phức.
V. Đố Vui
1. Xem cha mẹ, thầy tổ như bạn có phải lại điều bất kính chăng?
a. Đúng vậy chỉ có người ngang với mình mới là bạn được
b. Không hẳn. Nếu bạn được nghĩa là người đối với mình bằng lòng từ và sự chân thật
d. Đúng là điều nên phân biệt như Đức Phật dạy cha mẹ là phương đông, bằng hữu là phương tây.
c. Xem nhau là bạn thì vui hơn
2. Tai sao thân cận bạn lành là điều quan trọng trong sự tu tập?
a. Vì tự lực không đủ mà phải có tha lực
b. Vì bạn lành giúp ta có cái nhìn khách quan về bản thân
c. Vì bạn lành có ảnh hưởng tốt đối với hành vi, tư tưởng của mình
d. b và c đúng
3. Đức Phật ca ngợi đời sống độc cư lại nói rằng thân cận thiện hữu là toàn phần của Phạm hạnh như vậy Ngài có mâu thuẫn chăng?
a. Không mâu thuẩn vì một điều dạy cho hàng thượng căn, một điều dạy cho hàng độn căn
b. Mâu thuẩn. Có lẽ kinh điển bị tam sao thất bổn
c. Không mâu thuẩn. Thân cận bạn lành không hẳn là từ bỏ độc cư
d. Thích điều nào thì làm điều đó không có gì là mâu thuẫn
.
0 Comments:
Post a Comment
<< Home