Lớp giảng Phật Học Chuyên Ðề ngày 03 tháng 09, 2006
Giảng sư: TK Tuệ Quyền
Làm Quen Với Tam Tạng Kinh Điển
Phần II: nên đọc kinh điển như thế nào?
http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Để tiếp thâu hầu hết những gì bạn nghiên cứu nơi kinh điển, có thể là một điều hữu ích khi để ý vài nguyên lý căn bản trước khi bạn thật sự bắt đầu đọc, và một khi bạn bắt đầu đọc, sẽ có một vài câu hỏi phát khởi trong tâm bạn.
II. Nội dung chính
Kinh điển nào cần đọc?
Không có gì là "tuyệt đối" trong việc dịch thuật.
Đừng quên rằng Thánh Điển Pali đã được ghi chép bằng ngôn ngữ Pali, không phải bằng ngôn ngữ Anh văn. Không một bài giảng nào trong cuộc đời hoằng Pháp của Đức Phật mà Ngài nói đến "Suffering" (đau khổ) hoặc "enlightenment" (giác ngộ); để thay cho chữ dukkha và nibbana. Hãy ghi nhớ rằng,tất cả những bản dịch Anh văn đã được sửa chữa và chế biến bởi các dịch giả để cho phù hợp với bài kinh - Một vài người đã thấm nhuần sâu xa trong văn hoá của họ trong một giai đoạn nào đó, và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của họ đã không thể nào tránh khỏi làm thay đổi bản dịch. Những bản dịch của người Anh vào cuối thế kỷ 19th và đầu thế kỷ 20th, thì nghèo nàn và không sáng sủa đối với chúng ta ngày hôm nay, 100 năm về sau từ hôm nay, những bản dịch ngày nay chắc chắn sẽ trở thành xưa cổ. Dịch thuật, giống như người vẽ họa đồ cố gắng làm một đồ án vòng quanh trái đất lên trên tờ giấy bằng phẳng, đó là một nghệ thuật không hoàn hảo.
Điều tốt nhất là đừng chấp nhận đặc biệt bất cứ một bản dịch nào, không một chữ nào hay bài kinh nào. Chỉ vì, một dịch giả dịch chữ "suffering" đồng nghĩa với dukkha hoặc chữ "Unbinding" với chữ nibbana, nó không có nghĩa là bạn phải chấp nhận những bản dịch đó là chân ly'. Hãy thử dùng những chữ đó, để xem chữ nào thích hợp với bạn. Hãy chừa khoảng trống cho sự hiểu biết của bạn thay đổi và trưởng thành, và trau dồi thiện ý để suy xét những bản dịch lệch lạc. Có thể, nhiều lần, sự ưa thích của bạn sẽ thay đổi (thí dụ, bạn có thể tìm thấy chữ "stress" và "quenching" có ích hơn). Nên nhớ rằng bất cứ bản dịch nào cũng chỉ là để thuận lợi - nhưng là tạm thời - bạn phải dùng cho đến khi bạn có thể tự hiểu ý tưởng mà nó diễn tả .
Nếu bạn thật sự nghiêm túc trong việc muốn hiểu bài kinh nói về vấn đề gì, bạn hãy chịu khó học tiếng Phạn. Nhưng cũng có một cách tốt hơn là: đọc các bản dịch và đem giáo lý áp dụng vào sự thực hành cho đến khi bạn nhận được kết quả như lời Đức Phật giảng dạy. Thuần thục Pali thì tốt nhưng không phải là điều kiện tiên quyết để Giác Ngộ.
Không một bài kinh nào chứa đựng tất cả giáo ly'.
Để gặt hái những lợi lạc lớn lao từ kinh điển, hãy nghiên cứu tỉ mỉ nhiều kinh điển khác nhau, không chỉ một vài bài kinh. Các bài pháp về chánh niệm tỉnh giác, thí dụ, mặc dù có giá trị to lớn, lại chỉ tiêu biểu phần nhỏ của toàn thể giáo pháp của Đức Phật: Nguyên tắc là: bất cứ khi nào bạn nghĩ rằng bạn hiểu được tất cả giáo pháp của Đức Phật là gì, hãy nắm lấy điểm đó và đào sâu hơn vào.
Đừng lo lắng về nội dung bài kinh có thật sự từ kim khẩu của Đức Phật lịch sử hay không.
Không có cách nào có thể chứng minh điều đó. Hãy chỉ đọc kinh điển, hãy thực hành giáo pháp những gì bạn có thể làm, và quan sát cái gì xảy ra.
Nếu bạn thích một quyển kinh, hãy đọc lại.
Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh lôi cuốn bạn theo một cách nào đó khi lần đầu bạn đọc nó. Hãy tin cậy vào phản ứng này và hãy đọc lại; nghĩa là quyển kinh có điều gì đó quí giá để dạy cho bạn và bạn đã chín mùi để tiếp nhận những giáo pháp mà nó đem lại. Đôi khi đọc lại những quyển kinh bạn nhớ đã thích hàng nhiều tháng hoặc nhiều năm, bạn có thể phát hiện ở chúng một số sắc thái mà trước kia bạn đã bỏ qua.
Nếu bạn không thích đọc một quyển kinh, hãy đọc lại .
Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh chỉ làm bạn bực bội. Hãy tin cậy vào phản ứng này; có nghĩa là quyển kinh đó có điều gì giá trị để dạy cho bạn, dù rằng có thể là bạn chưa sẵn sàng cho điều đó. Hãy làm dấu ở đấy và bây giờ hãy tạm để cuốn kinh sang môt bên. Một vài tuần,tháng, năm sau, hãy cầm nó lên và thử đọc lại. Có lẽ một ngày nào đó bạn sẽ kết nối được với nó
(còn tiếp)
III. Người Xưa Chốn Cũ (NS LP)
Sarnath là nơi nào? Khujjatàrà là ai?
Sarnath (Lộc vương) là tên mới thay cho Migadàya (Lộc Uyển) hay Rishipatana. Chữ Sarnath không có trong văn chương Pali hay Sanskrit. Kinh Pàli thường dùng chữ Migadàya hay Isipatana, nhiều khi dùng cả hai Migadàya và Isipatana. Ispatana, chữ Sanskrit là Rsipatana, nghĩa là chỗ trú của các vị ẩn sĩ. Còn chữ Migadàya nghĩa là Lộc uyển, là chỗ Vua Ba-la-nại để cho loài lộc được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. Tự nhiên chỗ này trở nên lý tưởng cho những vị ẩn sĩ muốn xa lánh thành thị.Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại đây. Do đó, Sarnath là thánh tích quan trọng bậc nhì sau Buddhagaya. Sarnath được xem là bất động xứ (avijahitat.t.hànàni) vì tất cả các đức Phật đều dùng chỗ này để thuyết pháp lần đầu tiên.
Khujjutarà là nữ tỳ của hoàng hậu Sàmàvati. Một lần đến mua hoa ở nhà anh làm vườn Sumana, bà được nghe Đức phật thuyết pháp và chứng đắc Sơ quả. Mỗi ngày bà đều đi nghe Đức Phật thuyết pháp, ghi nhớ, và khi trở về hoàng cung bà đã thuyết pháp cho hoàng hậu cùng năm trăm cung nữ nghe y như Thế Tôn đã thuyết. Kết quả tất cả những người này cũng đều chứng đắc Sơ quả. Bà được Đức Phật khen là tối thắng về đa văn (bahussutànam.) trong số các nữ cư sĩ. Những bài kinh trong bộ Itivuttaka (Kinh Phật thuyết như vậy) là những bài kinh mà Khujjutàra đã nghe từ Đức Phật và trùng tuyên lại cho hoàng hậu Sàmàvati cùng năm trăm cung nữ.
IV. Chữ và nghĩa (TT Tue Siêu)
Xin cho định nghĩa các chữ văn huệ, tư huệ và tu huệ
Văn huệ hay trí văn (Sutamayapaññà) là trí tuệ có được do nhờ học hỏi từ nơi người khác. Như nghe thầy dạy, nghe bạn hữu đàm luận... thậm chí là học từ sách vỡ kinh điển.
Tư huệ hay trí tư (cintàmayapaññà) là trí tuệ có được do suy luận, thẫm xét, tự nhận thức. Do học mà biết, đó là văn huệ; do suy nghĩ mà hiểu, đó là tư huệ.
Tu huệ (bhàvanàmayapaññà) là trí tuệ có được do tu chứng. Khi một người tu hành đắc chứng được thiền định, đạo quả thì trí tuệ bừng sáng, liễu tri được các pháp chưa từng được học, chưa từng suy nghĩ
V. Học và hỏi
Nghi ngờ giáo pháp có tội không?
Có hai sự nghi ngờ. Sự nghi ngờ thứ nhất là nghi vấn trước những điều khó hiểu hay đáng nghi. Đặt câu hỏi để tìm câu trả lời chứ không phải để phủ lên vấn đề cái nhìn tiêu cực. Đây là sự nghi ngờ "lành mạnh" thuộc vì trí tuệ. Sự nghi ngờ thứ hai là thái độ lưỡng lự, phân vân, không quyết định. Thông thường thì đây là một thói quen "trù trừ" thuộc về phiền não nghi hoặc. Thái độ nghi ngờ thứ nhất tốt cho người học đạo. Thái độ sau là thứ hoài nghi có hại. Nêu ghi nhớ một điều là một người vấn nạn bằng cách nêu lên những câu hỏi có tính xuyên tạc là tà kiến hơn là hoài nghi.
V. Đố Vui
1. Danh từ “kinh điển” có ý nghĩa chính xác là nghĩa nào dưới đây:
a. Tạng kinh trong giáo lý Phật Giáo.
b. Gồm ba tạng Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp.
c. Tất cả những gì ghi trong Tam Tạng và sách chú giải.
d. Nói chung về văn hóa sách báo.
2. Trong sự học hỏi giáo lý của người phật tử phải học như thế nào là đúng cách:
a. Phải nghe theo lời giảng của những vị thầy.
b. Không nên nghe theo lời giảng của những vị thầy.
c. Tự mình đọc hiểu kinh điển là đủ.
d. Dùng trí nhận định khi đọc hoặc nghe giảng.
3. Ngôn ngữ có cần thiết hay không cần thiết cho một người tầm cầu sự giải thoát:
a. Không cần, vì sự giải thoát vượt ngoài ngôn ngữ lý luận.
b. Rất cần, vì sự trình bày con đường giải thoát là phải nhờ phương tiện ngôn ngữ.
c. Tùy lúc, giai đoạn tìm hiểu con đường thì cần ngôn ngữ; giai đoạn thực hành để chứng đạt thì không cần ngôn ngữ.
d. Câu b và c đúng.
http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Để tiếp thâu hầu hết những gì bạn nghiên cứu nơi kinh điển, có thể là một điều hữu ích khi để ý vài nguyên lý căn bản trước khi bạn thật sự bắt đầu đọc, và một khi bạn bắt đầu đọc, sẽ có một vài câu hỏi phát khởi trong tâm bạn.
II. Nội dung chính
Kinh điển nào cần đọc?
Không có gì là "tuyệt đối" trong việc dịch thuật.
Đừng quên rằng Thánh Điển Pali đã được ghi chép bằng ngôn ngữ Pali, không phải bằng ngôn ngữ Anh văn. Không một bài giảng nào trong cuộc đời hoằng Pháp của Đức Phật mà Ngài nói đến "Suffering" (đau khổ) hoặc "enlightenment" (giác ngộ); để thay cho chữ dukkha và nibbana. Hãy ghi nhớ rằng,tất cả những bản dịch Anh văn đã được sửa chữa và chế biến bởi các dịch giả để cho phù hợp với bài kinh - Một vài người đã thấm nhuần sâu xa trong văn hoá của họ trong một giai đoạn nào đó, và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của họ đã không thể nào tránh khỏi làm thay đổi bản dịch. Những bản dịch của người Anh vào cuối thế kỷ 19th và đầu thế kỷ 20th, thì nghèo nàn và không sáng sủa đối với chúng ta ngày hôm nay, 100 năm về sau từ hôm nay, những bản dịch ngày nay chắc chắn sẽ trở thành xưa cổ. Dịch thuật, giống như người vẽ họa đồ cố gắng làm một đồ án vòng quanh trái đất lên trên tờ giấy bằng phẳng, đó là một nghệ thuật không hoàn hảo.
Điều tốt nhất là đừng chấp nhận đặc biệt bất cứ một bản dịch nào, không một chữ nào hay bài kinh nào. Chỉ vì, một dịch giả dịch chữ "suffering" đồng nghĩa với dukkha hoặc chữ "Unbinding" với chữ nibbana, nó không có nghĩa là bạn phải chấp nhận những bản dịch đó là chân ly'. Hãy thử dùng những chữ đó, để xem chữ nào thích hợp với bạn. Hãy chừa khoảng trống cho sự hiểu biết của bạn thay đổi và trưởng thành, và trau dồi thiện ý để suy xét những bản dịch lệch lạc. Có thể, nhiều lần, sự ưa thích của bạn sẽ thay đổi (thí dụ, bạn có thể tìm thấy chữ "stress" và "quenching" có ích hơn). Nên nhớ rằng bất cứ bản dịch nào cũng chỉ là để thuận lợi - nhưng là tạm thời - bạn phải dùng cho đến khi bạn có thể tự hiểu ý tưởng mà nó diễn tả .
Nếu bạn thật sự nghiêm túc trong việc muốn hiểu bài kinh nói về vấn đề gì, bạn hãy chịu khó học tiếng Phạn. Nhưng cũng có một cách tốt hơn là: đọc các bản dịch và đem giáo lý áp dụng vào sự thực hành cho đến khi bạn nhận được kết quả như lời Đức Phật giảng dạy. Thuần thục Pali thì tốt nhưng không phải là điều kiện tiên quyết để Giác Ngộ.
Không một bài kinh nào chứa đựng tất cả giáo ly'.
Để gặt hái những lợi lạc lớn lao từ kinh điển, hãy nghiên cứu tỉ mỉ nhiều kinh điển khác nhau, không chỉ một vài bài kinh. Các bài pháp về chánh niệm tỉnh giác, thí dụ, mặc dù có giá trị to lớn, lại chỉ tiêu biểu phần nhỏ của toàn thể giáo pháp của Đức Phật: Nguyên tắc là: bất cứ khi nào bạn nghĩ rằng bạn hiểu được tất cả giáo pháp của Đức Phật là gì, hãy nắm lấy điểm đó và đào sâu hơn vào.
Đừng lo lắng về nội dung bài kinh có thật sự từ kim khẩu của Đức Phật lịch sử hay không.
Không có cách nào có thể chứng minh điều đó. Hãy chỉ đọc kinh điển, hãy thực hành giáo pháp những gì bạn có thể làm, và quan sát cái gì xảy ra.
Nếu bạn thích một quyển kinh, hãy đọc lại.
Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh lôi cuốn bạn theo một cách nào đó khi lần đầu bạn đọc nó. Hãy tin cậy vào phản ứng này và hãy đọc lại; nghĩa là quyển kinh có điều gì đó quí giá để dạy cho bạn và bạn đã chín mùi để tiếp nhận những giáo pháp mà nó đem lại. Đôi khi đọc lại những quyển kinh bạn nhớ đã thích hàng nhiều tháng hoặc nhiều năm, bạn có thể phát hiện ở chúng một số sắc thái mà trước kia bạn đã bỏ qua.
Nếu bạn không thích đọc một quyển kinh, hãy đọc lại .
Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh chỉ làm bạn bực bội. Hãy tin cậy vào phản ứng này; có nghĩa là quyển kinh đó có điều gì giá trị để dạy cho bạn, dù rằng có thể là bạn chưa sẵn sàng cho điều đó. Hãy làm dấu ở đấy và bây giờ hãy tạm để cuốn kinh sang môt bên. Một vài tuần,tháng, năm sau, hãy cầm nó lên và thử đọc lại. Có lẽ một ngày nào đó bạn sẽ kết nối được với nó
(còn tiếp)
III. Người Xưa Chốn Cũ (NS LP)
Sarnath là nơi nào? Khujjatàrà là ai?
Sarnath (Lộc vương) là tên mới thay cho Migadàya (Lộc Uyển) hay Rishipatana. Chữ Sarnath không có trong văn chương Pali hay Sanskrit. Kinh Pàli thường dùng chữ Migadàya hay Isipatana, nhiều khi dùng cả hai Migadàya và Isipatana. Ispatana, chữ Sanskrit là Rsipatana, nghĩa là chỗ trú của các vị ẩn sĩ. Còn chữ Migadàya nghĩa là Lộc uyển, là chỗ Vua Ba-la-nại để cho loài lộc được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. Tự nhiên chỗ này trở nên lý tưởng cho những vị ẩn sĩ muốn xa lánh thành thị.Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại đây. Do đó, Sarnath là thánh tích quan trọng bậc nhì sau Buddhagaya. Sarnath được xem là bất động xứ (avijahitat.t.hànàni) vì tất cả các đức Phật đều dùng chỗ này để thuyết pháp lần đầu tiên.
Khujjutarà là nữ tỳ của hoàng hậu Sàmàvati. Một lần đến mua hoa ở nhà anh làm vườn Sumana, bà được nghe Đức phật thuyết pháp và chứng đắc Sơ quả. Mỗi ngày bà đều đi nghe Đức Phật thuyết pháp, ghi nhớ, và khi trở về hoàng cung bà đã thuyết pháp cho hoàng hậu cùng năm trăm cung nữ nghe y như Thế Tôn đã thuyết. Kết quả tất cả những người này cũng đều chứng đắc Sơ quả. Bà được Đức Phật khen là tối thắng về đa văn (bahussutànam.) trong số các nữ cư sĩ. Những bài kinh trong bộ Itivuttaka (Kinh Phật thuyết như vậy) là những bài kinh mà Khujjutàra đã nghe từ Đức Phật và trùng tuyên lại cho hoàng hậu Sàmàvati cùng năm trăm cung nữ.
IV. Chữ và nghĩa (TT Tue Siêu)
Xin cho định nghĩa các chữ văn huệ, tư huệ và tu huệ
Văn huệ hay trí văn (Sutamayapaññà) là trí tuệ có được do nhờ học hỏi từ nơi người khác. Như nghe thầy dạy, nghe bạn hữu đàm luận... thậm chí là học từ sách vỡ kinh điển.
Tư huệ hay trí tư (cintàmayapaññà) là trí tuệ có được do suy luận, thẫm xét, tự nhận thức. Do học mà biết, đó là văn huệ; do suy nghĩ mà hiểu, đó là tư huệ.
Tu huệ (bhàvanàmayapaññà) là trí tuệ có được do tu chứng. Khi một người tu hành đắc chứng được thiền định, đạo quả thì trí tuệ bừng sáng, liễu tri được các pháp chưa từng được học, chưa từng suy nghĩ
V. Học và hỏi
Nghi ngờ giáo pháp có tội không?
Có hai sự nghi ngờ. Sự nghi ngờ thứ nhất là nghi vấn trước những điều khó hiểu hay đáng nghi. Đặt câu hỏi để tìm câu trả lời chứ không phải để phủ lên vấn đề cái nhìn tiêu cực. Đây là sự nghi ngờ "lành mạnh" thuộc vì trí tuệ. Sự nghi ngờ thứ hai là thái độ lưỡng lự, phân vân, không quyết định. Thông thường thì đây là một thói quen "trù trừ" thuộc về phiền não nghi hoặc. Thái độ nghi ngờ thứ nhất tốt cho người học đạo. Thái độ sau là thứ hoài nghi có hại. Nêu ghi nhớ một điều là một người vấn nạn bằng cách nêu lên những câu hỏi có tính xuyên tạc là tà kiến hơn là hoài nghi.
V. Đố Vui
1. Danh từ “kinh điển” có ý nghĩa chính xác là nghĩa nào dưới đây:
a. Tạng kinh trong giáo lý Phật Giáo.
b. Gồm ba tạng Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp.
c. Tất cả những gì ghi trong Tam Tạng và sách chú giải.
d. Nói chung về văn hóa sách báo.
2. Trong sự học hỏi giáo lý của người phật tử phải học như thế nào là đúng cách:
a. Phải nghe theo lời giảng của những vị thầy.
b. Không nên nghe theo lời giảng của những vị thầy.
c. Tự mình đọc hiểu kinh điển là đủ.
d. Dùng trí nhận định khi đọc hoặc nghe giảng.
3. Ngôn ngữ có cần thiết hay không cần thiết cho một người tầm cầu sự giải thoát:
a. Không cần, vì sự giải thoát vượt ngoài ngôn ngữ lý luận.
b. Rất cần, vì sự trình bày con đường giải thoát là phải nhờ phương tiện ngôn ngữ.
c. Tùy lúc, giai đoạn tìm hiểu con đường thì cần ngôn ngữ; giai đoạn thực hành để chứng đạt thì không cần ngôn ngữ.
d. Câu b và c đúng.
0 Comments:
Post a Comment
<< Home