Lớp giảng Phật Giáo Sử. Ngày 04 tháng 09, 2006
Giảng sư: Ni Sư Liễu Pháp.
Cuộc đời Đức Phật . Phần II: Sau ngày thành đạo
Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch: Hữu Song Nguyễn Đức Tư
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Đức Thế Tôn thành đạo năm ngài ba mươi lăm tuổi. Được xem là một bậc đạo sư trẻ thời ấy nhưng Ngài đã khởi đầu con đường hoằng pháp bằng sự cảm hoá và thu nhận những đệ tử lỗi lạc vào Tăng chúng. Đồng thời Ngài cũng đón nhận sự quy ngưỡng của những vi vua có ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ. Có thể nói thời bình minh của Phật Pháp ghi đậm nét những thành tựu lớn trong sự hoằng đạo của Đức Phật.
II. Nội dung chính
Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay?
Thâu nhận 1000 đệ tử tại Uruvela
Ca Diếp (Kassapa) ở Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela), một Bà la môn thờ Thần Lửa, tóc bện, đang làm lễ cúng tế thì được Đức Phật thực hiện một phép mầu. Những người Bà la môn không thể nhóm lửa lên được nếu không được Đức Phật cho phép. Một trận lụt lớn đã xảy ra khi họ đang nhóm lửa. Tuy nhiên, Đức Phật đã làm phép cứu thoát cho những người tế lễ. Sau đó Ca Diếp cùng các tín đồ của ông ta gia nhập vào Tăng đoàn (Sangha). Cùng với tất cả những người này, Đức Phật đến đồi Tượng Đầu (Gayasirsa) và Ngài đã có bài giảng nổi tiếng về sự đốt cháy. Từ đồi Tượng Đầu, Ngài đi tiếp đến Vương Xá (Rajagaha), kinh đô nước Ma-kiệt-đà để giữ trọn lời hứa với vua Tần-bà-xa-la (Bimbisara). Vị vua này đã dâng cúng Tăng đoàn rừng trúc của hoàng gia để làm tu viện.
Hai thượng thủ thinh văn
Tại kinh đô nước Ma-kiệt-đà có một người tu sĩ khổ hạnh là Sanjaya với một số đông môn đệ, trong đó có Xá-lợi-phất (Sariputta) và Mục-kiền-liên (Moggallana). Xá-lợi-phất từng được nghe từ Ngài Assaji, một thánh đệ tử của Đức Phật, bài kệ như sau:
“Muôn vật từ duyên sinh
Cũng do duyên mà diệt
Bậc giác ngộ tuyệt vời.
Đã từng như vậy thuyết.”
Khi đã hiểu hết ý nghĩa của bài kệ trên qua Assaji, Xá-lợi-phất trở thành môn đệ của Đức Phật. Mục-kiền-liên cũng làm theo ông. Tăng đoàn được tăng cường thêm hai Bà la môn lớn, họ đều trở thành những đệ tử hàng đầu của Giáo chủ. Xá lợi của hai Ngài đến nay vẫn còn được lưu giữ và được thờ cúng tại nhiều thánh địa.
Phật Pháp truyền vào Kosala (Kiều Tát La)
Số tín đồ thế tục cứ tiếp tục tăng thêm nhanh chóng. Cấp-cô-độc (Anathapindika), một thương gia giàu có ở Xá-vệ (Savatthi) đã mua lại của Thái tử Kỳ-đà (Jeta) một khu vườn với số vàng lát kín cả mặt đất và dựng lên một tu viện, gọi là Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên (Jetavana Vihara), để cúng dường cho Tăng đoàn. Hoàng đế Ba-tư-nặc (Pasenadi) nước Kiều-tất-la, một phu nhân giàu có tên Visakha và nhiều nhân vật nổi tiếng của nước Kiều-tất-la đều trở thành môn đệ của Đức Phật. Sau đó, Ngài đi đến thành Vương-xá (Rajagaha), tại đây một ngự y là Jivaka Kumarabhrtya trở thành đệ tử và chăm sóc sức khoẻ cho Đức Phật và Tăng chúng.
III. Người Xưa Chốn Cũ
Xin cho biết vài chi tiết về Uruvela? Có bao nhiêu vị đệ tử nổi tiếng thời Phật có tên Kassapa?
Danh từ “Uruvela” có nghĩa là “bãi cát lớn” (great sandbank). Uruvela thời Phật còn tại thế là một thị trấn nhỏ nằm cạnh sông Ni Liên Thuyền (Niranjara) thuộc vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha), dưới quyền trị vì của vua Bimbisara. Trước khi chứng đạo giác ngộ, đức Phật đả trải qua sáu năm tu khổ hạnh ở đây. Và cũng tại nơi này, đức Bồ Tát khi chưa thành Phật đã nhận bát cháo sữa do tín nữ Sujata dâng cúng trong khi Ngài đang tu thiền định dưới gốc cây cổ thụ Ajapala.
Sau khi thành đạo và đến thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, đức Phật đã trở lại Uruvela để hóa độ cho ba anh em ông Ca Diếp theo đạo thờ lửa là Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa xuất gia tu hành và sau này cả ba vị đều chứng đắc quả A La Hán. Uruvela ngày nay tức làng Urel, cách sáu dặm từ thị trấn Gaya, trong quận Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ.
1. Mahā Kassapa xuất thân là con của một triệu phú gia ở Magadha. Sau khi xuất gia chẳng bao lâu ngài đắc quả A-La-Hán và trở thành một vị Ðại Ðệ-tử, tín-cẩn nhất của Ðức Phật. Ðại-Ðức Maha Kassapa có uy tín lớn, nên sau giờ Niết-Bàn của Ðức-Phật, Ngài đảm đương nhiều trọng-nhiệm: chủ-tọa lễ hóa-táng Ðức-Phật tại Kurinara và sau đó 100 ngày, chủ-tọa Ðại-hội Thánh-Tăng, kết-tập Tam-Tạng lần đầu tiên tại Rajagaha. Ngài được Đức Phật khen là tối thắng về hạnh đầu đà.
2. Kumāra-Kassapa vốn là con của một vị tỷ kheo ni. Vì được nhà vua nuôi dưỡng và vì ngài xuất gia khi còn thiếu niên, ngài được gọi là Kumàra-kassapa, dầu cho khi ngài đã lớn. Ngài được bậc Ðạo Sư ấn chứng cho là vị thuyết pháp lanh lợi đệ nhất.
3. Ba anh em Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa. Ba anh em ông là những người có danh vọng lớn ở Magadha, và là những đạo sĩ thờ thần lửa, tự cho mình đã chứng quả A La Hán. Sau khi Đức Phật dùng thần thông để hóa độ họ, ba anh em tin rằng chính Đức Phật mới là người đã chứng quả Thánh, chứ không phải là mình. Sau đó cả ba anh em Kassapa và 1.000 đệ tử đều xin xuất gia theo Phật. Uruvela Kassapa được Đức Phật khen là có đồ chúng nhiều nhất.
IV. Chữ và nghĩa
Thượng Thủ Thinh Văn nghĩa là gì? Tại sao gọi là đại thí chủ?
Danh từ Thượng thủ thinh văn (aggasāvaka), nghĩa là vị đệ tử có vị trí tối cao. Trong số chư Thinh văn đệ tử Đức Phật, Tôn giả Sārīputta và Moggallāna là hai vị thượng thủ thinh văn tả hữu của Đức Phật. Vị trí nầy do phước nguyện của hai vị ấy từ đời quá khứ, không phải do Đức Phật phong tước hiệu.
Danh từ Đại thí chủ (Mahādāyaka), nghĩa là vị thí chủ lớn; nghĩa đen là vị thí chủ quan trọng. Đúng nghĩa vị đại thí chủ trong Phật Giáo phải là người có niềm tin Tam Bảo kiên định, có tâm hoan hỷ xã tài, luôn luôn đặt trọng tâm hộ pháp. Thuở Đức Phật hiện tiền, Ngài có hai vị đại thí chủ là ông thiện nam Anāthapin.d.ika và bà tín nữ Visākhā. Tuy nhiên, danh từ đại thí chủ cũng dùng để chỉ chung cho những người cư sĩ bố thí rộng rãi.
V. Học và hỏi
Đạo Phật không chấp nhận việc phân chia giai cấp trong xã hội Ấn là hợp lý. Vậy những vi vua và những người trí thức đến với Phật giáo trong thời ban sơ có đóng vai trò gì quan trọng không?
Không phân biệt giai cấp có nghĩa là quan niệm rõ ràng là sự tu tập nội tâm và khả năng giác ngộ không tùy thuộc và giai cấp sang hèn. Đức Phật đã cho phép những người thuộc mọi giai cấp trở thành thành viên của Tăng Đoàn. Dù vậy chúng ta không thể phủ nhận sự thật là sự quy ngưỡng Tam Bảo của những vua chúa, các nhà trí thức, những người giàu có đã là những yếu tố quan trọng cho sự quảng bá Phật Pháp sâu rộng ở bất cứ thời nào
VI. Đố Vui
1. Qua câu chuyện Đức Phật tiếp độ 1000 vị đạo sĩ thờ lửa Uruvelakassapa, hãy nhận xét Đức Phật đã dùng loại thần thông gì để thu phục họ:
a. Biến hóa thần thông.
b. Tiên tri thần thông.
c. Giáo hóa thần thông.
d. Gồm cả ba loại thần thông.
2. Hai vị thượng thủ thinh văn của Đức Phật là Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, được giác ngộ chân lý do ai là thầy khai đạo cho hai vị ấy:
a. Chính Đức Phật.
b. Tôn giả Assaji (Mã Thắng).
c. Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca Diếp).
d. Khổ hạnh giả Sañjaya.
3. Ngôi chùa ở tại Xá vệ (Sāvatthī) do trưởng giả Cấp Cô Độc xây cất cúng dường Đức Phật. Ngôi chùa ấy có tên là:
a. Kỳ viên tự.
b. Bố kim tự.
c. Kỳ đà lâm.
d. Cả ba tên gọi đều đúng.
Giảng sư: Ni Sư Liễu Pháp.
Cuộc đời Đức Phật . Phần II: Sau ngày thành đạo
Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch: Hữu Song Nguyễn Đức Tư
I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.
Đức Thế Tôn thành đạo năm ngài ba mươi lăm tuổi. Được xem là một bậc đạo sư trẻ thời ấy nhưng Ngài đã khởi đầu con đường hoằng pháp bằng sự cảm hoá và thu nhận những đệ tử lỗi lạc vào Tăng chúng. Đồng thời Ngài cũng đón nhận sự quy ngưỡng của những vi vua có ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ. Có thể nói thời bình minh của Phật Pháp ghi đậm nét những thành tựu lớn trong sự hoằng đạo của Đức Phật.
II. Nội dung chính
Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay?
Thâu nhận 1000 đệ tử tại Uruvela
Ca Diếp (Kassapa) ở Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela), một Bà la môn thờ Thần Lửa, tóc bện, đang làm lễ cúng tế thì được Đức Phật thực hiện một phép mầu. Những người Bà la môn không thể nhóm lửa lên được nếu không được Đức Phật cho phép. Một trận lụt lớn đã xảy ra khi họ đang nhóm lửa. Tuy nhiên, Đức Phật đã làm phép cứu thoát cho những người tế lễ. Sau đó Ca Diếp cùng các tín đồ của ông ta gia nhập vào Tăng đoàn (Sangha). Cùng với tất cả những người này, Đức Phật đến đồi Tượng Đầu (Gayasirsa) và Ngài đã có bài giảng nổi tiếng về sự đốt cháy. Từ đồi Tượng Đầu, Ngài đi tiếp đến Vương Xá (Rajagaha), kinh đô nước Ma-kiệt-đà để giữ trọn lời hứa với vua Tần-bà-xa-la (Bimbisara). Vị vua này đã dâng cúng Tăng đoàn rừng trúc của hoàng gia để làm tu viện.
Hai thượng thủ thinh văn
Tại kinh đô nước Ma-kiệt-đà có một người tu sĩ khổ hạnh là Sanjaya với một số đông môn đệ, trong đó có Xá-lợi-phất (Sariputta) và Mục-kiền-liên (Moggallana). Xá-lợi-phất từng được nghe từ Ngài Assaji, một thánh đệ tử của Đức Phật, bài kệ như sau:
“Muôn vật từ duyên sinh
Cũng do duyên mà diệt
Bậc giác ngộ tuyệt vời.
Đã từng như vậy thuyết.”
Khi đã hiểu hết ý nghĩa của bài kệ trên qua Assaji, Xá-lợi-phất trở thành môn đệ của Đức Phật. Mục-kiền-liên cũng làm theo ông. Tăng đoàn được tăng cường thêm hai Bà la môn lớn, họ đều trở thành những đệ tử hàng đầu của Giáo chủ. Xá lợi của hai Ngài đến nay vẫn còn được lưu giữ và được thờ cúng tại nhiều thánh địa.
Phật Pháp truyền vào Kosala (Kiều Tát La)
Số tín đồ thế tục cứ tiếp tục tăng thêm nhanh chóng. Cấp-cô-độc (Anathapindika), một thương gia giàu có ở Xá-vệ (Savatthi) đã mua lại của Thái tử Kỳ-đà (Jeta) một khu vườn với số vàng lát kín cả mặt đất và dựng lên một tu viện, gọi là Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên (Jetavana Vihara), để cúng dường cho Tăng đoàn. Hoàng đế Ba-tư-nặc (Pasenadi) nước Kiều-tất-la, một phu nhân giàu có tên Visakha và nhiều nhân vật nổi tiếng của nước Kiều-tất-la đều trở thành môn đệ của Đức Phật. Sau đó, Ngài đi đến thành Vương-xá (Rajagaha), tại đây một ngự y là Jivaka Kumarabhrtya trở thành đệ tử và chăm sóc sức khoẻ cho Đức Phật và Tăng chúng.
III. Người Xưa Chốn Cũ
Xin cho biết vài chi tiết về Uruvela? Có bao nhiêu vị đệ tử nổi tiếng thời Phật có tên Kassapa?
Danh từ “Uruvela” có nghĩa là “bãi cát lớn” (great sandbank). Uruvela thời Phật còn tại thế là một thị trấn nhỏ nằm cạnh sông Ni Liên Thuyền (Niranjara) thuộc vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha), dưới quyền trị vì của vua Bimbisara. Trước khi chứng đạo giác ngộ, đức Phật đả trải qua sáu năm tu khổ hạnh ở đây. Và cũng tại nơi này, đức Bồ Tát khi chưa thành Phật đã nhận bát cháo sữa do tín nữ Sujata dâng cúng trong khi Ngài đang tu thiền định dưới gốc cây cổ thụ Ajapala.
Sau khi thành đạo và đến thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, đức Phật đã trở lại Uruvela để hóa độ cho ba anh em ông Ca Diếp theo đạo thờ lửa là Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa xuất gia tu hành và sau này cả ba vị đều chứng đắc quả A La Hán. Uruvela ngày nay tức làng Urel, cách sáu dặm từ thị trấn Gaya, trong quận Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ.
1. Mahā Kassapa xuất thân là con của một triệu phú gia ở Magadha. Sau khi xuất gia chẳng bao lâu ngài đắc quả A-La-Hán và trở thành một vị Ðại Ðệ-tử, tín-cẩn nhất của Ðức Phật. Ðại-Ðức Maha Kassapa có uy tín lớn, nên sau giờ Niết-Bàn của Ðức-Phật, Ngài đảm đương nhiều trọng-nhiệm: chủ-tọa lễ hóa-táng Ðức-Phật tại Kurinara và sau đó 100 ngày, chủ-tọa Ðại-hội Thánh-Tăng, kết-tập Tam-Tạng lần đầu tiên tại Rajagaha. Ngài được Đức Phật khen là tối thắng về hạnh đầu đà.
2. Kumāra-Kassapa vốn là con của một vị tỷ kheo ni. Vì được nhà vua nuôi dưỡng và vì ngài xuất gia khi còn thiếu niên, ngài được gọi là Kumàra-kassapa, dầu cho khi ngài đã lớn. Ngài được bậc Ðạo Sư ấn chứng cho là vị thuyết pháp lanh lợi đệ nhất.
3. Ba anh em Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa. Ba anh em ông là những người có danh vọng lớn ở Magadha, và là những đạo sĩ thờ thần lửa, tự cho mình đã chứng quả A La Hán. Sau khi Đức Phật dùng thần thông để hóa độ họ, ba anh em tin rằng chính Đức Phật mới là người đã chứng quả Thánh, chứ không phải là mình. Sau đó cả ba anh em Kassapa và 1.000 đệ tử đều xin xuất gia theo Phật. Uruvela Kassapa được Đức Phật khen là có đồ chúng nhiều nhất.
IV. Chữ và nghĩa
Thượng Thủ Thinh Văn nghĩa là gì? Tại sao gọi là đại thí chủ?
Danh từ Thượng thủ thinh văn (aggasāvaka), nghĩa là vị đệ tử có vị trí tối cao. Trong số chư Thinh văn đệ tử Đức Phật, Tôn giả Sārīputta và Moggallāna là hai vị thượng thủ thinh văn tả hữu của Đức Phật. Vị trí nầy do phước nguyện của hai vị ấy từ đời quá khứ, không phải do Đức Phật phong tước hiệu.
Danh từ Đại thí chủ (Mahādāyaka), nghĩa là vị thí chủ lớn; nghĩa đen là vị thí chủ quan trọng. Đúng nghĩa vị đại thí chủ trong Phật Giáo phải là người có niềm tin Tam Bảo kiên định, có tâm hoan hỷ xã tài, luôn luôn đặt trọng tâm hộ pháp. Thuở Đức Phật hiện tiền, Ngài có hai vị đại thí chủ là ông thiện nam Anāthapin.d.ika và bà tín nữ Visākhā. Tuy nhiên, danh từ đại thí chủ cũng dùng để chỉ chung cho những người cư sĩ bố thí rộng rãi.
V. Học và hỏi
Đạo Phật không chấp nhận việc phân chia giai cấp trong xã hội Ấn là hợp lý. Vậy những vi vua và những người trí thức đến với Phật giáo trong thời ban sơ có đóng vai trò gì quan trọng không?
Không phân biệt giai cấp có nghĩa là quan niệm rõ ràng là sự tu tập nội tâm và khả năng giác ngộ không tùy thuộc và giai cấp sang hèn. Đức Phật đã cho phép những người thuộc mọi giai cấp trở thành thành viên của Tăng Đoàn. Dù vậy chúng ta không thể phủ nhận sự thật là sự quy ngưỡng Tam Bảo của những vua chúa, các nhà trí thức, những người giàu có đã là những yếu tố quan trọng cho sự quảng bá Phật Pháp sâu rộng ở bất cứ thời nào
VI. Đố Vui
1. Qua câu chuyện Đức Phật tiếp độ 1000 vị đạo sĩ thờ lửa Uruvelakassapa, hãy nhận xét Đức Phật đã dùng loại thần thông gì để thu phục họ:
a. Biến hóa thần thông.
b. Tiên tri thần thông.
c. Giáo hóa thần thông.
d. Gồm cả ba loại thần thông.
2. Hai vị thượng thủ thinh văn của Đức Phật là Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, được giác ngộ chân lý do ai là thầy khai đạo cho hai vị ấy:
a. Chính Đức Phật.
b. Tôn giả Assaji (Mã Thắng).
c. Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca Diếp).
d. Khổ hạnh giả Sañjaya.
3. Ngôi chùa ở tại Xá vệ (Sāvatthī) do trưởng giả Cấp Cô Độc xây cất cúng dường Đức Phật. Ngôi chùa ấy có tên là:
a. Kỳ viên tự.
b. Bố kim tự.
c. Kỳ đà lâm.
d. Cả ba tên gọi đều đúng.
0 Comments:
Post a Comment
<< Home