Ban Tu Thư

Thursday, September 07, 2006

Lớp Thiền Học Ngày 07 tháng 09, 2006
Giảng sư: TK Giác Đẳng

Niệm Từ Phạm Trú (tt)

(Thanh Tịnh Đạo bản Việt dịch của Ni Sư Trí Hải )

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp: Người tu tâm từ phạm trú phải có thái độ hoà ái với bản thân. Đây là điểm đặc biệt tế nhị. Ai cũng nghĩ rằng mình vốn thương mình quá nhiều thì không cần thiết để nói thêm. Người ta cũng dể dàng rơi vào sự chấp ngã quá đáng do quá thương mình. Đức Phật dạy nên có thái độ từ hoà với bàn thân. Bài học hôm nay là vài quan điểm trích từ Thanh Tinh Đạo của Ngài Buddhaghosa về sự trưởng dưỡng từ tâm đối với tự thân.


II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?

Ðáp:


Từ mẫn với mình có khác với vị ngã.

8. Trước tiên tâm từ nên được trải đến chính bản thân hành giả, lặp đi lặp lại như sau: "Mong rằng ta được an lạc, thoát khổ ách" hoặc: "Mong rằng tôi thoát được hận thù, buồn khổ, lo âu và sống hạnh phúc"

9. Như vậy, có phải là mâu thuẫn với những gì được nói ở trong kinh điển hay không? Vì không có chỗ nào nói tới việc trải tâm từ đến chính mình trong Vibhanga: "Và làm thế nào một tỷ kheo tu tập biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ? Giống như vị ấy có tâm từ khi thấy một người rất thân mến, cũng vậy vị ấy rưới khắp tất cả hữu tình với từ tâm". (Vbh. 272), và trong Patisambhidà thì nói: "Bằng năm cách nào, từ tâm giải thoát được làm cho sung mãn không giới hạn": "Mong rằng tất cả chúng sanh thoát khỏi hận thù, buồn khổ, lo âu và được sống trong hạnh phúc" "Mong rằng mọi loài có thở... mọi loài được sinh ra... mọi người... mọi kẻ có một nhân tính, đều thoát khỏi hận thù, buồn khổ, lo âu và sống được an lạc." (Sn. 145). Có phải là mâu thuẫn với những bản văn này?

10. Không mâu thuẫn. Tại sao không? Bởi vì, văn trên là nói đến định. Còn sự tu tập sơ khởi này, trải tâm từ đến chính bản thân, là muốn nói chuyện lấy bản thân để làm ví dụ. Vì dù có tu tập tâm từ cho đến một trăm năm hay một ngàn năm theo kiểu:"Tôi được an lạc hạnh phúc. " v.v... thì cũng không bao giờ đắc định. Nhưng nếu hành giả tu tập tâm từ như sau: "Tôi được an lạc. Cũng như tôi muốn an lạc và sợ đau khổ, như tôi muốn sống, không muốn chết, thì các chúng sinh khác cũng vậy." Khi lấy bản thân làm ví dụ, thì ước mong cho những chúng sinh khác được an lạc hạnh phúc khởi lên nơi hành giả. Và phương pháp này đã được ám chỉ bởi Ðức Thế Tôn khi ngài nói:

"Tâm ta đi cùng khắp,
tất cả mọi phương trời,
cũng không tìm thấy được,
ai thân hơn tự ngã,
tự ngã đối mọi người,
quá thân ái như vậy.
Vậy ai yêu tự ngã,
chớ hại tự ngã người (S. ii, 75)

Ghi nhận những đức tánh tích cực nơi mình

11. Bởi vậy hành giả trước hết nên lấy mình làm ví dụ, trải từ tâm đến khắp bản thân. Kế tiếp, để tiến hành sự tu tập một cách dễ dàng, hành giả có thể tưởng đến những món quà, những lời tử tế v.v...dễ mến, dễ yêu, những đức hạnh, đa văn khả kính, khả phục nơi một vị giáo thọ sư hay đồng giáo thọ sư, một vị y chỉ sư hay đồng y chỉ sư. Trải tâm từ đến vị ấy theo cách khởi đầu là: "Mong rằng con người hiền thiện ấy được hạnh phúc an vui, thoát mọi khổ ách". Với một người như thế làm đối tượng, dĩ nhiên là hành giả đắc định liền.

12. Nhưng nếu vị tỳ kheo ấy không chỉ bằng lòng với bấy nhiêu, mà muốn phá vỡ những hàng rào, thì kế đó vị ấy nên trải tâm từ đến một người bạn rất yêu mến, rồi đến một người dửng dưng xem như người rất yêu mến, rồi đến một kẻ thù xem như không hận thù. Và trong khi làm như vậy, hành giả cần khiến cho tâm nhu nhuyễn dễ sử dụng ở mỗi trường hợp trước khi qua trường hợp kế tiếp.


Tâm từ cần sự phát triển tuần tự

13. Nhưng nếu hành giả không có kẻ thù, hoặc nếu hành giả thuộc hàng người vĩ đại không xem người nào là kẻ thù dù cho người đó có hại mình, thì vị ấy không nên để tâm đến chuyện trải tâm từ đến một kẻ thù và nghĩ:"Bây giờ từ tâm của ta đã trở nên dễ dàng đối với một người dửng dưng. Ta nên trải tâm từ ấy đến một kẻ thù." Vì đối với một người thực sự có một kẻ thù, thì mới nên trải tâm từ đến kẻ ấy như đến một người không thân không thù.


III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm về câu chuyện Phật thuyết Kinh Từ Bi?


Đáp: Vào lúc ấy mùa mưa sắp đến, sau khi được Đức Phật ban dạy những đề mục hành thiền, một nhóm tỳ khưu ra đi, tìm nơi thích hợp để thực hành. Các Ngài đến một địa điểm vắng vẻ yên tĩnh và quyết định ở lại đó hành thiền nhằm mục tiêu giải thoát.
Các vị thọ thần sống trên cây cảm thấy bất tiện nên tìm cách làm cho chư tỳ khưu không còn ở được và phải ra đi. Đêm đêm các vị thọ thần làm đủ cách để phá khuấy không cho chư tăng ở yên hành thiền.
Chư vị tỳ khưu thấy khó mà an trụ tâm trong tình trạng như vậy nên trở về chùa bạch lại tự sự với Đức Thế Tôn.
Đức Phật dạy chư Tăng bài Kinh Metta Sutta (kinh về tâm Từ) và khuyên các vị này trở lại ngay địa điểm trước rồi cùng đọc lên bài Kinh này khi vào rừng. Chư Tăng làm theo lời dạy.
Những tư tưởng Từ ái an lành được ban rải ra, thấm nhuần bầu không khí trong toàn khu rừng. Các vị thọ thần ở khắp nơi trong rừng nghe Kinh cảm thấy thanh bình an lạc, phát tâm kỉnh mộ chư Tăng, và kể từ đó thay vì khuấy nhiễu làm trở ngại, họ tận tình hộ trì và nâng đỡ chư Tăng.
Sau ba tháng an cư kiết hạ, tất cả chư vị tỳ khưu trong nhóm đều chứng đắc Đạo Quả A La Hán.

IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Từ và bi khác nhau thế nào? tại sao hai từ đó thường đi chung?


Ðáp:Người ta thường quan niệm từ bi là tình thương quảng đại bao dung đối với muôn loài; hễ có tâm từ là có tâm bi, có tâm bi là có tâm từ. Vì họ hiểu hai nghĩa gần giống nhau. Do đó người ta thường dùng hai tiếng từ bi gọi chung với nhau.
Thực ra, từ bi có hai ý nghĩa độc lập.
Từ (mettā) có đặc tính mát mẽ, vô sân; thái độ của tâm từ là thân thiện, hài hòa
Bi (karu.nā) có đặc tính rung động, cảm động; thái độ của tâm bi là xót thương, trắc ẩn.
Tâm từ phát tiết từ nội tâm mát mẽ lan tỏa đến muôn loài.
Tâm bi thể hiện khi có mặt chúng sanh đang khổ đau mà mình thấy hoặc nghĩ đến.


V. Học và hỏi

Hỏi: Những người vì tha nhân mà quên mình có gọi là thiếu lòng từ với bản thân không ?


Ðáp: Là người đệ tử Phật là luôn mang trên mình trọng trách "Hành Như Lai xứ tác Như Lai sự", mong đem lại hạnh phúc cho tha nhân. Khi gặp chúng sanh đang khổ thì thương xót cứu giúp hay không bực phiền với chúng sanh, Đức Phật gọi là Từ Bi.

Nói đến lòng Từ (Mettā) là tâm không nóng nảy, tâm mát mẻ với chúng sanh, mong chúng sanh luôn an lạc. Lòng Bi (Karun.ā) là không mong làm hại chúng sanh, thương xót mong chúng sanh thoát khổ.

Trong việc hoằng hóa độ sanh vì tha nhân mà quên mình, truớc tiên là giúp chúng sanh mau thoát khổ và đối với bản thân đã tạo một công đức thiện sự. "Lợi người mà lợi mình thì nên làm". Đó là một việc làm Đức Phật tán thán.


VI. Đố Vui

1/ Người tu tập tâm từ là người giữ tâm thái không yêu không ghét chúng sanh. Ý nghĩa nầy có đúng không?
a. Đúng, vì ái luyến và sân hận đều là trạng thái nghịch nghĩa với tâm từ.
b. Không đúng, vì thái độ không yêu không ghét không phải là trạng thái thân thiện của tâm từ.
c. Đúng, nếu đó là tâm thái hài hòa nhưng không bị hạn chế bởi tham sân
d. Cả ba lập luận trên đều sai

2/ Theo a-tỳ-đàm, tất cả tâm thiện đều có thuộc tính vô sân (adosa), mà đặc tính của tâm từ là vô sân. Như vậy người làm thiện là người an trú tâm từ phải chăng?
a. Nếu là vậy thì người đang có tâm thiện cũng gọi là người đang an trú tâm từ
b. Đặc tính của tâm từ là trạng thái vô sân nhưng không phải tâm sanh có thuộc tánh vô sân gọi là tâm từ.
c. Người an trú tâm từ là phải phát huy đặc tính vô sân biến thành một đức tính đặc biệt
d. Câu b và c đúng

3/ Trong bốn vô lượng tâm, có đặc tính nào tương đương với tâm từ
a. Từ vô lượng tâm
b. Bi vô lượng tâm
c. Hỷ vô lượng tâm
d. Xã vô lượng tâm


0 Comments:

Post a Comment

<< Home