Ban Tu Thư

Thursday, August 31, 2006

Lớp Trung Bộ Kinh Ngày Thứ Năm 31 tháng 08, 2006

Giảng sư: TK Giác Đẳng

Trung Bộ Kinh - Bài kinh số 82 - Kinh Ratthapàla

(Phần Toát Yếu và Tóm Tắt trích Trung Bộ Toát Yếu do Ni Sư Trí Hải biên soạn)
A.TOÁT YẾU

Ratthapàla Sutta - On Ratthapàla.

The story of a young man who goes forth into homelessness against the wishes of his parents and later returns to visit them.

Về Ratthapàla.

Chuyện về một thanh niên cưỡng lại ước muốn của cha mẹ mà đi tu, và sau trở về thăm cha mẹ.

B. TÓM TẮT

Khi Phật đến thuyết pháp tại thị trấn Thullakotthita, thanh niên con nhà giàu nên Ratthapàla xin cha mẹ theo Phật xuất gia. Cha mẹ không cho, Ratthapàla bèn tuyệt thực gần chết nên cha mẹ buộc lòng cho phép. Ratthapàla được xuất gia, thọ đại giới [1]. Chẳng bao lâu ông chứng quả A la hán [2]. Sau khi chứng quả, tôn giả Ratthapàla xin Phật về nhà thăm cha mẹ.

Khi về đến làng cũ, Ratthapàla tuần tự khất thực đến nhà cha mẹ. Người cha không nhận ra nên mắng nhiếc xua đuổi, nghĩ chính những người này đã khiến con mình bỏ nhà ra đi. Khi tôn giả bỏ đi, trông thấy người tớ gái đem cháo thiu [3] đi đổ, ông bảo hãy trút vào bát của mình. Nữ tỳ đến gần để trút cháo, nhận ra tiểu chủ bèn vào báo tin. Ông bà chạy ra, bảo: "Ồ con, có chứ [4] ... sao ngồi đấy ăn cháo thiu mà không đi vào nhà của con?" Tôn giả nói ông không có nhà, ông có đến khất thực song chỉ nhận được những lời mắng nhiếc. Rồi ông nhận lời cha mẹ hôm sau đến dùng cơm.

Người cha sửa soạn đón tôn giả, cho chất vàng bạc của cải thành đống, lấy màn che lại; và bảo các bà vợ cũ của tôn giả trang sức lộng lẫy để đón tiếp. Khi tôn giả vào nhà, ông chỉ đống vàng mà khuyên tôn giả hãy hoàn tục tu tại gia, làm phước bố thí. Tôn giả khuyên hãy đổ tất cả xuống sông, vì đấy là nguồn gốc của sầu bi khổ não cho gia chủ. Kế đến, các bà vợ đi ra ôm chân tôn giả mà hỏi có phải vì mê thiên nữ nên đi tu để được lên đấy. Tôn giả bảo thưa bà chị, không phải vì mục đích sanh thiên mà bần tăng xuất gia tu phạm hạnh. Khi ấy các bà vợ cũ lăn lóc nói chồng bây giờ lại gọi mình bằng bà chị. Tôn giả bảo gia chủ muốn bố thí đồ ăn thì hãy dọn ra, chớ có phiền nhiễu ngài. Người cha mời tôn giả ăn.

Ăn xong tôn giả đọc một bài kệ nói đến tính dơ uế, khổ, vô thường của thân xác nhưng lại được tô điểm [5] để lừa bịp kẻ ngu. Rồi ngài đi vào rừng của vua để nghỉ trưa. Vua Koravya nghe tôn giả [6] trở về bèn cho thắng cỗ xe đến thăm. Khi gặp tôn giả, vua hỏi người đời vì bốn sự suy vong mà đi tu, là lão suy, bệnh suy, tài suy, thân suy. Nay tôn giả không có bốn cái suy ấy thì cớ gì xuất gia. Tôn giả đáp vì bốn điểm thuyết giáo của đức Thế tôn:

1. Thế giới vô thường, đi đến hủy diệt [7],
2. Vô hộ vô chủ [8],
3. Vô sở hữu [9],
4. Luôn luôn thiếu thốn khát khao [10].


Vua rất hoan hỉ với lời giải thích của tôn giả.


I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài kinh nầy.

Đây là bài kinh số 82 của Trung Bộ Kinh, Kinh Tạng Pali. Tên kinh là Ratthapàla Sutta vì nói về cuộc đời và một giai thoại liên quan tới tôn giải Ratthapàla

Khi Phật đến thuyết pháp tại thị trấn Thullakotthita, thanh niên con nhà giàu nên Ratthapàla xin cha mẹ theo Phật xuất gia. Cha mẹ không cho, Ratthapàla bèn tuyệt thực gần chết nên cha mẹ buộc lòng cho phép. Ratthapàla được xuất gia, thọ đại giới [1]. Chẳng bao lâu ông chứng quả A la hán [2]. Sau khi chứng quả, tôn giả Ratthapàla xin Phật về nhà thăm cha mẹ.

Khi về đến làng cũ, Ratthapàla tuần tự khất thực đến nhà cha mẹ. Người cha không nhận ra nên mắng nhiếc xua đuổi, nghĩ chính những người này đã khiến con mình bỏ nhà ra đi. Khi tôn giả bỏ đi, trông thấy người tớ gái đem cháo thiu [3] đi đổ, ông bảo hãy trút vào bát của mình. Nữ tỳ đến gần để trút cháo, nhận ra tiểu chủ bèn vào báo tin. Ông bà chạy ra, bảo: "Ồ con, có chứ [4] ... sao ngồi đấy ăn cháo thiu mà không đi vào nhà của con?" Tôn giả nói ông không có nhà, ông có đến khất thực song chỉ nhận được những lời mắng nhiếc. Rồi ông nhận lời cha mẹ hôm sau đến dùng cơm.

Người cha sửa soạn đón tôn giả, cho chất vàng bạc của cải thành đống, lấy màn che lại; và bảo các bà vợ cũ của tôn giả trang sức lộng lẫy để đón tiếp. Khi tôn giả vào nhà, ông chỉ đống vàng mà khuyên tôn giả hãy hoàn tục tu tại gia, làm phước bố thí. Tôn giả khuyên hãy đổ tất cả xuống sông, vì đấy là nguồn gốc của sầu bi khổ não cho gia chủ. Kế đến, các bà vợ đi ra ôm chân tôn giả mà hỏi có phải vì mê thiên nữ nên đi tu để được lên đấy. Tôn giả bảo thưa bà chị, không phải vì mục đích sanh thiên mà bần tăng xuất gia tu phạm hạnh. Khi ấy các bà vợ cũ lăn lóc nói chồng bây giờ lại gọi mình bằng bà chị. Tôn giả bảo gia chủ muốn bố thí đồ ăn thì hãy dọn ra, chớ có phiền nhiễu ngài. Người cha mời tôn giả ăn.

Ăn xong tôn giả đọc một bài kệ nói đến tính dơ uế, khổ, vô thường của thân xác nhưng lại được tô điểm [5] để lừa bịp kẻ ngu. Rồi ngài đi vào rừng của vua để nghỉ trưa. Vua Koravya nghe tôn giả [6] trở về bèn cho thắng cỗ xe đến thăm. Khi gặp tôn giả, vua hỏi người đời vì bốn sự suy vong mà đi tu, là lão suy, bệnh suy, tài suy, thân suy. Nay tôn giả không có bốn cái suy ấy thì cớ gì xuất gia. Tôn giả đáp vì bốn điểm thuyết giáo của đức Thế tôn

II. Nội dung chính

Những điểm quan trọng gì được nói đến qua bài kinh nầy?


Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt.

-- Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt," ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?

-- Thưa Tôn giả Ratthapala, khi tôi được 20 hay 25 tuổi, tôi thiện nghệ về voi, tôi thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh, và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi cảm thấy có thần lực và xem không ai có thể bằng tôi về sức mạnh.

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nay Ðại vương vẫn còn bắp vế mạnh, cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ đánh giặc như vậy không?

-- Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.

-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

-- Thật vi diệu thay, Tôn Giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.

Thế giới là vô hộ, vô chủ

Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không?

-- Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi có bệnh phong kinh niên. Nhiều khi, thân hữu quen biết, bà con huyết thống đứng xung quanh tôi và nói: "Nay vua Koravya sẽ mệnh chung, nay vua Koravya sẽ mệnh chung".

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ðại vương có thể nói chăng, với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của Ðại vương: "Mong rằng Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi! Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này, để tôi có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; hay là Ðại vương chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình?

-- Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi không có thể nói với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của tôi: "Mong rằng các Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi. Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này để có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; và tôi chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình".

-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô hộ, vô chủ.

Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả

Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này có rất nhiều vàng nén và tiền vàng dưới đất và trên mặt đất". Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Dầu cho nay Ðại vương sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng, Ðại vương có thể nói được như sau: "Chính như vậy, tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng này"; hay là người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn Ðại vương sẽ phải đi theo nghiệp của mình?

-- Thưa Tôn giả Ratthapala, dầu cho nay tôi sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng. Tôi không có thể nói được như sau: "Chính như vậy tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng này". Chính người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn tôi phải đi theo nghiệp của tôi.

-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả". Và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả.

Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái

Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Có phải Ðại vương trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh?

-- Thưa vâng, Tôn giả Ratthapala. Tôi trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh.

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu có người đáng tin cậy, chánh trực đến với Ðại vương từ phương Ðông, và sau khi đến tâu với Ðại Vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ phương Ðông lại. Ở đấy, tôi có thấy một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi, tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương, hãy đi chinh phục !" Ðại vương sẽ hành động như thế nào?

-- Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây có người đến với Ðại vương từ phương Tây ... từ phương Bắc ... từ phương Nam ... từ bờ biển bên kia, người ấy đáng tin cậy, chánh trực, tâu với Ðại vương: "Tâu Ðại vương, Ðại vương có biết chăng? Tôi từ bờ biển bên kia lại. Ở đây, tôi thấy có một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi. Tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Ðại vương , hãy đi chinh phục". Ðại vương sẽ hành động như thế nào?

-- Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục quốc độ ấy, tôi sẽ trị vì.

-- Chính liên hệ với nghĩa này, này Ðại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, " và tôi sau khi biết, sau khi thấy, sau khi nghe như vậy, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.

III. Người xưa chốn cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm chi tiết về thị trấn Thullakotthita và tôn giả Ratthapàla


Ðáp: Thullakot.t.hita là một thị trấn của nước Kuru. Đây là quê hương của ngài Ratthapala, và là nơi Đức Phật dừng chân trong chuyến du hành thuyết pháp ở xứ Kuru. Thị trấn này có tên như vậy là vì các kho lương thực của thị trấn này luôn luôn đầy (thulla = đầy, kot.t.ha = kho) nhờ mùa màng phong phú.

Tôn giả Ratthapàla xuất thân trong một gia đình giàu có ở Thullakot.t.hita. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp ngài xin phép cha mẹ xuất gia. Cha mẹ không cho, ngài bèn tuyệt thực gần chết nên cha mẹ buộc lòng cho phép. Chẳng bao lâu ngài chứng quả A la hán và xin Đức Phật về nhà thăm cha mẹ. Cha mẹ và những người vợ cũ tìm cách lôi kéo ngài trở về đời sống tại gia, nhưng vô hiệu vì ngài đã hoàn toàn diệt tận tham ái. Tôn giả Ratthapàla được Đức Phật khen là đệ nhất về tín tâm xuất gia (saddhàpabbajitànam.).



IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Từ vô hộ vô chủ có đồng nghĩa với vô ngã không?


Ðáp: Danh từ vô hộ (a.t.tāno), vô chủ (anabhissaro) không thể hiểu hoàn toàn đồng nghĩa với từ vô ngã(anatta). Bởi vì trong bài kinh này đã giải thích ý nghĩa vô hộ, vô chủ là tình trạng ở đời không có một tha lực có thể cứu giúp hay thay thế nỗi đau của mình, mà phải tự mình nhận lãnh dù là một vị vua có quyền hạn. Trong khi đó, từ vô ngã (anatta) là nói lên bản chất giả hợp không có thực thể đơn thuần bất biến của pháp hữu vi; và trong chừng mực nào đó, vô ngã cũng được hiểu là không có chủ quyền quyết định đối với những hiện tượng tự nhiên như là sanh, già, bệnh, chết…


V. Học và hỏi

Nếu cuộc đời chỉ là khổ lụy thì Phật Pháp có cho điều nào là sinh thú để tha thiết không?

Khi nói đời là khổ đúng theo cách nói của Phật Pháp là sabbe sankhàrà dukkhati thì chữ khổ phải được hiểu khác hơn là vui khổ trong ngôn ngữ hằng ngày. Cũng tương tự như khi chúng ta nói mọi vật luôn thay đổi rồi đem câu đó hỏi rằng pho tượng đá ngoài sân đã đứng yên bao năm qua như vậy có sai không. Sự đứng yên của một pho tượng là nói cách nói thường thức. Các nhà vật lý cho biết là tất cả phân tử vật chất luôn trong trạng thái chuyểng động. Trở lại với câu hỏi, cái vui khổ, thú vị hay buồn chán trong đời sống hằng ngày được nói trong một phạm trù khác biệt với câu đời là khổ. Hai ý niệm về khổ đó không giống nhau. Cái khổ của pháp hữu vi được hiểu là sự rỗng không, có tùy thuộc nhân duyên và không bao giờ hoàn toàn thoả mãn. Ý nghĩa nầy rộng lớn hơn khi chúng ta nói cái mình thích và không thích trong đời sống hằng ngày


V. Đố Vui



1. Hiểu đúng theo Phật Pháp thì tại sao chúng ta không bao giờ hoàn toàn thoả mãn với cuộc sống?

a. Vì chưa đạt được cái để mãn nguyện
b. Vì con người sinh ra để mà khổ sao có thể thoả chí được?
c. Bản chất của khát ái là không thoả mãn dù có được bao nhiêu cũng vậy
d. Câu b và c đúng


2. Trong bài kinh trên tôn giả Ratthapàla đã đi xuất gia vì:

a. Niềm tin ở Đức Phật
b.Ý thức được sự tầm thường của đời sống
c. Thấy được sự cao quí của đời sống phạm hạnh
d. Cả ba điều trên

3. Câu nào dưới đây không đúng với lời thuyết pháp của tôn giả Ratthapàla

a. Dù người đời có bao nhiêu cũng không thể thoả mãn
b. Dù người đời có khả năng bao nhiêu cũng không thể bảo vệ mình trước tử thần
d. Dù người đời có tu bao nhiêu cũng không làm cuộc sống khác hơn
c. Dù người đời có thủ đắc bao nhiêu rồi cũng phải bỏ tất cả

chu the va khach the co nghia la vai tro ben ngoai va ben trong; chu the va khach the co the la doc lap khong lien quan gi voi nhau.
nang duyen va so duyen co nghia la mot yeu to tro giup va mot yeu to duoc tro giup, cai nay tro cai kia sanh ra; goi cai nay la nang duyen cai kia la so duyen. Nang va so co quan he trong pham tru nhan va qua.
Do do, danh tu chu the-khach the, va nang duyen-so duyen khac nhau, khong giong nhau.

Wednesday, August 30, 2006

Lớp giảng Thiền Học Ngày Thứ Tư 30 tháng 08, 2006.
Giảng sư: TT Tuệ Siêu

Niệm Từ Phạm Trú

Tài liệu trích từ "Thanh Tịnh Đạo" của Ngài Buddhaghosa. Thích Nữ Trí Hải dich từ bản Anh ngữ của Ngài Nanamoli.


I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.

Phạm trú hay brahma vihara là sự thể nhập vào trạng thái hiền thiện tách rời khỏi sự chi phối của vị ngã. Trong dục giới dù là thiện dục giới thì vẫn có liên hệ đến "tôi, ta" tức là yếu tính chủ quan của nhận thức. Chỉ có trong thiền sắc và vô sắc thì mới an trú vào đề mục mà không có sự đối đãi vị ngã. Tất nhiên không hoàn toàn đoạn phiền não nhưng nhất thời không bị chi phối bởi ngã tính. Chúng sanh trong dục giới dù không có thiền định vẫn có ít nhiều kinh nghiệm với trạng thái nầy qua sự khởi sinh và hàm dưỡng bốn trạng thái từ, bi, hỉ và xã. Phần tu tập tâm từ sẽ được nói một cách chi tiết làm kiểu mẫu cho những sự tu tập tâm bi, hỉ và xã về sau.

II. Nội dung chính

Xin đơn cử vài điểm tiêu biểu của bài học hôm nay?

Bước đầu tiên là từ bỏ sân hận bằng sự thấy lợi ích của nhẫn nại

1. Bốn phạm trú được kể là những đề mục thiền kế tiếp những đề mục tùy niệm kể như đề mục thiền (Ch.III, đoạn 105). Những đề mục này là Từ Bi Hỷ Xả. Một vị thiền giả muốn tu tập trước hết đề mục Từ, nếu vị ấy là người sơ cơ, thì phải trừ khử những chướng ngại và học đề tài thiền. Rồi, sau khi ăn xong, qua cơn chóng mặt sau bữa ăn, vị ấy nên ngồi thoải mái tại một chổ khuất nẻo. Ðể bắt đầu, hành giả nên quán sát sự nguy hiểm trong sân hận và sự lợi lạc trong kham nhẫn.

2. Tại sao? Bởi vì cần phải từ bỏ sân, đạt đến an nhàn trong sự tu tập đề mục thiền này, mà vị ấy không thể từ bỏ những nguy hiểm nếu không thấy được chúng và không thể đạt đến những lợi lạc nếu vị ấy không biết.

Bây giờ, nguy hiểm trong sân hận có thể được thấy mô tả trong các kinh như: "Này chư hiền, khi một người nổi sân, nó là miếng mồi cho sân, tâm nó bị ám bởi sân nó giết hại chúng sanh..." (A. i,216). Và lợi ích trong sự an nhẫn cần được hiểu theo sự mô tả trong các kinh như:

"Chư Phật dạy, không pháp nào cao hơn nhẫn nhục,
"Và không niết bàn nào cao hơn kham nhẫn" (D. ii, 49; Dh. 184)

"Không ác ý, nhẫn chịu
phỉ báng, đánh, hình phạt,
"Lấy nhẫn làm quân lực,
Ta gọi Bà-la-môn." (Dh. 399)

"Không có pháp nào cao cả hơn nhẫn nhục" (S. i, 222)

3. Rồi hành giả nên khởi sự tu tập từ tâm vì mục đích tách rời tâm khỏi sân đã đuợc thấy là nguy hiểm, và đưa tâm đến nhẫn nhục đã được biết là lợi ích.

Nên biết trải rộng tâm từ đến hạng người nào trong bước đầu tiên

Nhưng khi khởi sự, hành giả cần biết rằng, lúc ban đầu tâm từ nên được trải đến một hạng người nào, mà không đến hạng nào.

4. Vì tâm từ lúc đầu không nên trải đến 4 hạng người sau đây: người mà ta ghét hay có ác cảm sẵn, người mà ta rất yêu mến, người ta không ưa không ghét, và người ta thù. Và cũng không nên trải tâm từ đặc biệt là đến kẻ khác phái hay đến một người đã chết.

5. Vì lý do nào mà ta không nên trải tâm từ đến những hạng trên? Ðể một người khả ố vào địa vị một người mến thương thì mệt lòng. Ðể một người rất thân vào địa vị một người dửng dưng cũng mệt; và nếu một bất hạnh nhỏ nào xảy đến cho người ấy, thì hành giả gần như muốn khóc. Ðể một người dửng dưng vào địa vị một người khả kính, khả ái thì rất mệt. Còn nếu nhớ đến một kẻ thù thì hành giả sẽ nổi sân. Vì những lý do đó mà lúc đầu không nên trải tâm từ đến những hạng người ấy.

6. Và nếu hành giả trải tâm từ đặc biệt đến người khác phái, thì tham dục khởi lên nơi hành giả do người ấy làm nguồn cảm hứng. Có một vị trưởng lão thường đến khất thực tại nhà nọ. Một người cư sĩ bạn của người con trai trong gia đình ấy hỏi trưởng lão: "Bạch đại đức ta nên trải tâm từ đến người nào?" Vị trưởng lão trả lời: "Ðến một người ta thương mến". Người cư sĩ ấy yêu mến vợ con anh ta. Do tu tập từ tâm trải đến nàng, vị ấy đấm vào vách tường suốt đêm ấy. Sau khi thọ bát quan trai giới, vị ấy khóa cửa phòng, ngồi trên một tọa cụ để tu tập quán tâm từ. Bị mù quáng bởi tham dục khởi lên dưới lớp vỏ từ tâm, anh toan đi đến thăm người vợ, và vì không trông thấy cửa nên vị ấy đập vào vách để thoát ra dù có phải làm đổ tường. (Pm.286) Do vậy, không nên trải tâm từ đặc biệt đến kẻ khác phái.

7. Còn nếu hành giả trải tâm từ đến một người đã chết, thì vị ấy không đạt được an chỉ hay định cận hành gì cả. Như có một tỷ kheo trẻ khởi sự trải tâm từ đến vị giáo thọ sư là đối tượng. Tâm từ của vị ấy không tiến triển chút nào cả. Vị ấy đi đến một vị Thượng tọa tỷ kheo và bạch: "Bạch Ðại đức, con rất thường đắc thiền nhờ quán tâm từ, mà bây giờ quán mãi không đắc, là tại sao?" Vị trưởng lão dạy:"Hiền giả hãy tìm tướng ấy đi." (nghĩa là đối tượng của thiền quán). Vị tỷ kheo đi tìm, và được biết vị giáo thọ sư đã chết. Ông liền tiếp tục tu tập trải tâm từ đến một đối tượng khác, và đắc định. Vì thế không nên trải tâm từ đến một người đã chết.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Xin cho biết vài chi tiết về voi Nàlagiri ? Savatthi hay Xá Vệ được biết thế nào trong kinh Phật?


Nàlàgiri là một chiến tượng dõng mãnh của vua Ajàsattu (A Xà Thế). Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) mượn thớt voi nầy rồi phục rượu say thả ra đường khi Đức Thế Tôn đi khất thực mong giết hại Ngài. Đức Phật dùng tâm từ vô lượng thuần hoá voi Nàlàgiri. Câu chuyện được ghi lại trong kinh Phật Lực Cảm Thắng trở thành một trong tám sự kiện trọng đại tán dương uy lực Phật là đề mục tăng trưởng tín tâm và năng lực hộ trì (paritta)

Savatthi (Xá vệ) là kinh đô của vương quốc Kosala (Kiều Tát La). Đây là đất thần kinh trù phú với khí hậu tương đối ôn hoà. Một thời là trung tâm văn hoá và quyền lực trong lưu vực sông hằng. Trong thời Phật trụ thế, Savatthi cai trị bởi vua Pasenadi (Ba Tư Nặc). Tại đây có hai ngôi chùa danh tiếng là Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá) và Pubbaràma (Đông Phương tự) với hai đại cư sĩ của Đức Phật là Cấp Cô Độc và Visàkhà.

IV. Chữ và nghĩa

Vô lượng tâm hay phạm trú là hay từ giống nhau hay khác nhau?


Phạm trú là từ dịch sát nghĩa của Phạm ngữ brahma vihara nghĩa là thể nhập vào trạng thái thanh tịnh. Đúng ra chữ 'phạm" là phiên âm của từ brahma mang nhiều ý nghĩa. Phạm có nghĩa là trong sạch, đại thể, không biên giới. Chính từ nghĩa nầy nên dịch là vô lượng tâm. Từ nấy đặc biệt được dùng hết sức quan trọng trong Bà la môn giáo. Một số học giả tin rằng ý nghĩa của chữ "đại thừa" sau nầy cũng bắt nguồn từ chữ brahma nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến "đại bi tâm"

V. Học và hỏi

Người "hiền" quá có sống nổi giữa cuộc đời đầy tranh chấp nầy không?


Tùy vào định nghĩa chữ "hiền". Hiền hoà là không hại ai thì không hẳn là để người khác hại mình. Hiền có nghĩa là không lanh lợi thì không đúng để diễn tả người nhân từ. Ông Cấp cô độc là người rất nhân từ nhưng không phải là "cục bột". Một người có "bản lãnh sống" vẫn có thể có một tấm lòng nhân hậu.

V. Đố Vui

1. Câu nào dưới đây diễn đúng với Phật Pháp về tâm từ:

a. Sự lân mẫn mong cho muôn loài được an lạc
b. Trạng thái tâm hoà dịu mát mẽ với tha nhân
c. Tâm bao dung không lấy điều dị biệt để đối xử thiên vị
d. Cả ba điều trên

2. Chủ trương từ bi có khuyến khích sự lợi dụng của người khác không?

a. Đúng vậy những xã hội bao dung sanh nhiều tệ đoan
b. Chỉ sợ mình không có lòng tốt đừng sợ người đời không được tốt
c. Sự đàn áp không dung tình sẽ khiến con người bớt tánh lợi dụng
d. Người ta khi được thương yêu sẽ tốt hơn

3. Nghe chuyện kể "Phật mũi đen" và trả lời câu đố

IV. Chữ và nghĩa

Từ vô hộ vô chủ có đồng nghĩa với vô ngã không?
Danh từ vô hộ (aṭṭāno), vô chủ (anabhissaro) không thể hiểu hoàn toàn đồng nghĩa với từ vô ngã(anatta). Bởi vì trong bài kinh này đã giải thích ý nghĩa vô hộ, vô chủ là tình trạng ở đời không có một tha lực có thể cứu giúp hay thay thế nỗi đau của mình, mà phải tự mình nhận lãnh dù là một vị vua có quyền hạn. Trong khi đó, từ vô ngã (anatta) là nói lên bản chất giả hợp không có thực thể đơn thuần bất biến của pháp hữu vi; và trong chừng mực nào đó, vô ngã cũng được hiểu là không có chủ quyền quyết định đối với những hiện tượng tự nhiên như là sanh, già, bệnh, chết…

Saturday, August 26, 2006

Lớp giảng Phật Học Chuyên Đề
Giảng sư: TK Tuệ Quyền
Làm Quen Với Tam Tạng Kinh Điển
Phần II: Kinh điển nào cần đọc?

http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm


I. Đại lược
Xin cho biết đại lược về bài học.


Kinh điển có thể giúp đỡ rất đầy đủ để nghĩ đến Pháp Phật như là vật bảo quý giá, mỗi một bài kinh cho bạn đại cương một hay hai khía cạnh. Thí dụ, Đức Phật giảng dậy Tứ Diệu ĐếBát Chánh Đạo ; bố thí (dana) giới (sila), thiền theo hơi thở và quán tưởng sự chết, của đời sống hoàn hảo của những người cư sĩ hay những tăng sĩ. Không một bài kinh nào nói hết tất cả, mỗi bài kinh tùy thuộc vào khung cảnh của thời giảng bài Pháp. Bạn càng đọc nhiều kinh điển thì bạn càng thấy đây là trân bảo.



II. Nội dung chính
Kinh điển nào cần đọc?




Dưới đây là câu trả lời của tiến sĩ John Bullitt, một Phật tử người Hoa kỳ, chủ biên của trang Chìa Khoá Học Phật.


Kinh sách đề nghị đọc cho người bắt đầu tìm hiểu Phật Pháp.

Mới bắt đầu, tất cả các Phật tử phải học và thực hành năm giớiNăm Sự Kiện cần phải quan sát mỗi ngày . Lại nữa, chúng ta phải đặc biệt chú ý vào lời Đức Phật dậy con trai của Ngài là Rahua, là một bài kinh liên quan tới nhiệm vụ căn bản của chúng ta mỗi khi chúng ta làm công việc có chủ tâm trong tất cả vấn đề. Từ đó bạn có thể tiếp tục học hỏi những lời giảng dậy của Đức Phật theo từng bước một hoặc tăng dần trong giáo Pháp được bao gồm trong những đề tài: từ bi, đức hạnh, hạnh phúc, tiết chế trong dục, hành xảTứ Diệu Đế

Kinh sách đọc để biết giáo lý căn bản.

Nếu bạn thích một nền tảng vững chắc về cơ bản của Phật Pháp, ba quyển kinh được mọi người biết đến cho là thiết yếu để đọc: Chuyển Pháp Luân (SN 56.11). Bài giảng về Tính chất Vô ngã (SN 22.59) và Bài giảng Lửa (SN 35.28). Cùng với đó, những kinh này - “Tam Tạng” Kinh điển – xác định những chủ đề của giáo pháp đức Phật tái xuất hiện trong vô vàn đa dạng xuyên suốt kho tàng kinh điển. Trong những kinh này, chúng ta được giới thiệu những khái niệm cơ bản như là Tứ Thánh Đế; bản chất của dukkha (khổ); Bát Chánh Đạo; “Trung Đạo”, Bánh xe Pháp; nguyên lý anatta (vô ngã) và việc phân tích “bản ngã” của con người thành năm uẩn, nguyên lý trút bỏ sự quyến rủ của những vui thú cảm quan trần tục; và nhiều cấp độ (cảnh giới) sinh linh đặc trưng cho vũ trụ học Phật giáo. Những nguyên tắc cơ bản này cung cấp một bộ khung vững chắc trên đó những giáo pháp khác trong kho tàng kinh điển được đặt vào.

Những bài kinh lý thú

Hơn nữa, tam tạng kinh điển này minh chứng tuyệt đẹp về kỹ năng nổi bật của đức Phật với tư cách là một người Thầy: Ngài tổ chức tư liệu rõ ràng, hợp lý, theo cách dễ nhớ như dùng những bảng liệt kê (Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ uẩn v.v.); Ngài đưa người nghe vào một cuộc đối thọai tích cực, giúp họ tự bóc trần những sai lầm trong sự hiểu biết của chính mình, Ngài truyền đạt quan điểm của mình bằng những so sánh và những hình ảnh mà người nghe hiểu ngay; và có ý nghĩa nhất, từng lúc, Ngài kết nối với người nghe thật hiệu quả cho đến nổi họ có thể tự nhận ra những kết quả siêu việt mà ngài đoan chắc. Việc thấy được đức Phật trên phương diện là một người Thầy với năng lực phi thường động viên chúng ta tiến sâu hơn nữa vào kho tàng kinh điển, tự tin rằng, giáo pháp của Ngài sẽ không dẫn ta đi chệch hướng.

Vài đề nghị cụ thể .
Những bài kinh nên đọc cho người mới bắt đầu
Tập
Tiểu Bộ Kinh - Khuddaka Nikayacung cấp một kho tàng kinh điển quan trọng trong thể thơ. Đặc biệt trong Kinh Pháp Cú, Kinh Tập, Trưởng Lão Ni KệTrưởng Lão Tăng Kệ
Để đọc bài hướng dẫn căn bản thiền hơi thở, xem tại
Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm; sự giảng dậy của Ngài cho sự hành trì an trú chánh niệm, xem tại Kinh Đại Niệm Xứ.
Để học hỏi làm thế nào để nuôi dưỡng tình thường, xem tại
Karaniya Metta Sutta.
Trong bài kinh
Devadaha Sutta Ngài Sariputta giải thích làm thế nào để giới thiệu Phật Pháp tới những người muốn tìm hiểu, những người sáng suốt, những người như bạn.
Như thế nào để có thể quyết định con đường đạo nào nên theo đường nào không nên theo? Kinh
Kalama Sutta sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.
Trong kinh
Giáo thọ Thi-ca-la-việt Đức Phật đưa ra bản hướng dẫn ngắn gọn rằng người cư sĩ như thế nào có được đời sống hạnh phúc và một đời sống trọn vẹn
Khi bạn tìm thấy bài kinh thu hút được sự thích thú của bạn, hãy tìm những bài khác tương tựa như vậy.
1 Từ đó, bạn muốn theo hướng nào cũng được, sẽ chọn lựa được những điều qúi giá trên con đường tu tập.



III. Người Xưa Chốn Cũ

Kàlàma là xứ nào? Asoka là ai?

1. Kàlàma là tên của một bộ tộc tại Kesaputta thuộc vương quốc Kosala. Bộ tộc nầy thuộc dòng Khattiya (Sát đế lỵ). Bài kinh Đức Phật giảng cho dân chúng Kàlàma được các hoc giả gọi là "bản tuyên ngôn tự do tư tưởng sớm nhất và vĩ đại nhất của nhân loại". Một trong hai vị đạo sư mà Đức Phật đã gặp trước khi thành đạo là Alàra-Kàlàma đến từ bộ tộc nầy.
2. Asoka (A Dục Vương) là vị hoàng đế thống nhất Ấn Độ đầu tiên và là người có công lớn nhất đưa Phật giáo đến nhiều vùng đất ngoài Ấn độ. Nguyên là vua của xứ Magadha, con trai vui Bindusàra, Asoka đăng quang năm 218 sau Phật viên tịch trở hoàng đế của một Ấn Độ với biên cương rộng lớn nhất từ trước đến nay. Về sau trở thành một Phật tử thuần thành và bảo trợ công cuộc kết tâp Tam Tạng kỳ III (vào năm thứ 7 tại vị). Vua Asoka băng hà sau 37 năm trị vì thiên hạ.



IV. Chữ và nghĩa

Tại sao gọi là Tạng Kinh (sutta pitaka)? Tại sao gọi là Tạng Luật (vinaya pitaka)? Tại sao gọi là Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma pitaka)?


Tạng Luật (Vinaya Pitaka)

Tạng Luật được xem là cái neo vững chắc để bảo tồn con thuyền giáo hội trong những cơn phong ba bão táp của lịch sử. Phần lớn tạng Luật đề cập đến giới Luật và nghi lễ trong đời sống xuất gia của các vị tỳ khưu và tỳ khưu ni. Ngót hai mươi năm sau khi Thành Đạo, Đức Phật không có ban hành giới luật nhất định để kiểm soát và khép chư tăng vào kỹ cương. Về sau, mỗi khi có trường hợp xảy diễn, Đức Phật đặt ra những điều răn thích hợp. Tạng Luật nêu rỏ đầy đủ lý do tại sao và trường hợp nào Đức Phật ban hành một giới, và mô tả rành mạch các nghi thức hành lễ sám hối (Vinaya) của chư tăng.

Tạng Kinh (Sutta Pitaka)

Tạng Kinh đại để gồm những bài Pháp có tánh cách khuyên dạy mà trong nhiều cơ hội khác nhau, Đức Phật giảng cho các bậc xuất gia và hàng cư sĩ. Một vài bài giảng của các vị đại đệ tử như các ngài Sariputta (Xá Lợi Phất), Moggallana (Mục Kiền Liên) và Ananda (A Nan Đà) cũng được ghép vào Tạng Kinh và cũng được tôn trọng như chính lời Đức Phật vì đã được Đức Phật chấp nhận.Tang Kinh giống như một quyển sách ghi lại nhiều quy tắc để coi theo mà thực hành, vì đó là các bài Pháp do Đức Phật thuyết giảng ở nhiều trường hợp khác nhau cho nhiều người có căn cơ, trình độ, và hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi trường hợp, Đức Phật có một lối giảng để người thính Pháp có thể lãnh hội dễ dàng.

Tạng Luận (Abhidhamma Pitaka - Vi Diệu Pháp Tạng)

Tạng Luận thâm diệu và quan trọng nhất trong toàn thể Giáo Pháp vì đây là phần triết lý cao siêu, so với Tạng Kinh vốn giản dị hơn. Abhidhamma, Tạng Luận hay Vi Diệu Pháp, là tinh hoa của Phật Giáo.Đối với bậc thiện trí thức muốn tìm chân lý, Tạng Luận là quyển kinh chỉ đạo khẩn yếu, vừa là một tập khải luận vô giá. Ở đây có đủ thức ăn tinh thần cho các học giả muốn mở mang trí tuệ và đời sống lý tưởng của người Phật tử. Vi Diệu Pháp không phải loại sách để đọc thoáng qua cầu vui hay giải trí.