Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn ngày 12 tháng 09, 2006
Giảng sư: TK Giác Đẳng
Ngôn ngữ
Phật học cũng có chuyện "bằng mặt không bằng lòng"
(Một số dị biệt trong cách dùng từ vựng giữa Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Đại thừa)
I. Đại lược
Rất thường khi bạn có thể gặp được sự tranh luận phê phán thậm chí nghi ngờ về khả năng hiểu biết giáo lý giữa hai tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa. Họ có thể dùng từ rất giống nhau dù là Hán việt hay Phạm ngữ nhưng ý nghĩa mà họ cho là "đúng" thì hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt nầy có thể là điều tự nhiên. Các truyền thống Phật giáo có nhiều sự dị biệt trong sự giải thích những quan điểm kinh điển. Ở đây không thể nói là định nghĩa nào đúng haysai. Cũng không thể nói rằng phải theo tiêu chuẩn nầy hay nguyên tắc nọ. Cũng không nên cố gắng, như một số người thường làm, là giải thích cách nào để haibên có thể "gặp nhau". Chúng ta nên thoải mái nhận là cái gì giống nhau là giống nhau, khác nhau là khác nhau. Đề tài nầy sẽ đưa ra một số từ vựng mà hai truyền thống có hai cách hiểu hoàn toàn khác biệt. (bài học sẽ kéo dài nhiều tháng)
II. Nội Dung chính
100 từ vựng mang tính dị biệt giữa hai truyền thống Nguyên thủy và Đại thừa
1. Bồ tát
Bồ tát là âm đọc ngắn của từ Bồ đề tát đoả là phiên âm của Phạm ngữ bodhisattvà (P. bodhisattà) dịch là "giác hữu tình". Những dị biệt trong cách dùng từ ngữ nầy có thể tóm tắt mấy điểm dưới đây:
Theo Phật giáo Nguyên thủy | Theo Phật giáo Đại thừa |
1. Bồ tát là bất cứ chúng sanh nào phát tâm cầu giác ngộ và đang tu tập dẫn đến giác ngộ giải thoát. | 1. Bồ tát là một quả chứng cao hơn thinh văn và duyên giác. |
2. Bồ tát là giai đoạn tu tập dẫn đến cứu cánh giác ngộ | 2. Bồ tát là lý tưởng cao nhất của Phật giáo Đại thừa. Kinh sách Phật giáo Đại thừa ghi rằng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát từng là vị chánh đẳng chánh giác nhưng sau nầy trở xuống thành bồ tát phò đức Phật Thích Ca và Đức A Di Đà |
3. Sự cao quí của chư vị bồ tát là cho cái khó cho, nhẫn cái khó nhẫn, là cái khó làm. Sở dĩ gọi là khó vì các ngài có khả năng giới hạn như những chúng sanh khác nhưng lại làm những điều mà chúng sanh bình thường khó làm được. | 3. Bồ tát thường là vị đạt đến cảnh giới cao siêu có nhiều năng lực như "thiên thủ thiên nhãn" . Người Trung hoa thường cầu bồ tát gia hộ hơn là cầu Phật gia hộ. Đức Quan Thế Âm, Đức Địa Tạng Vương là những vị bồ tát tiêu biểu. |
4. Bồ tát hạnh là ba la mật hạnh. Các ngài huân tu và bổ túc đầy đủ các pháp ba la mật để cuối cùng chứng đắc quả vị giác ngộ giải thoát | 4. Chư bồ tát thường có "biệt hạnh" hay chuyên hạnh. Thí dụ như Đại bi Quán thế âm, Đai hạnh Phổ hiền, Thường Tinh tấn bồ tát, Thường Hoan Hỳ bồ tát. |
5. Tất cả hạnh lành gọi là bồ tát hạnh đều phải đi với "nekkhamma - bản nguyện đoạn tận phiền não". Nếu thiếu yếu tố nầy không thành ba la mật hạnh. | |
6. Định nghĩa về bồ tát theo Tam Tạng Pàli tương đối giản dị: ai phát tâm cầu giác ngộ giải thoát và đang hành trình trên đường đó gọi là bồ tát. Có tu có chứng, Tu tập có khác biệt thì sự đắc chứng cũng khác biệt | 6. Bồ tát đạo là nền tãng của Phật giáo Đại thừa. Giáo lý nầy được khai triển trở thành một tôn chỉ và lý tưởng. Bồ tát đạo được xem là "cương lĩnh nhập thế" đối ngược lại với sự giải thoát "xuất thế" của Phật giáo Nguyên thủy. Tiêu biểu nhất của quan điểm nầy được ghi trong "bồ tát giới" |
Phần III: Người xưa chốn cũ
Devadatta là ai? Xin cho biết thêm vài chi tiết
về Kapilavatthu
Phần IV. Chữ và nghĩa
Chuyển luân vương được hiểu thế nào trong kinh điển Phật giáo? Bảy báu của
Chuyển luân vương là gì?
Phần V. Học và hỏi
Có quan trọng để biết sự tu tập của mình có phải là bồ tát hạnh hay không
phải ?
0 Comments:
Post a Comment
<< Home