Ban Tu Thư

Wednesday, September 13, 2006

Lớp Trung Bộ Kinh Ngày 13 tháng 09, 2006

Giảng sư: TK Giác Giới

Kinh số 29: Kinh Thí Dụ Lõi Cây

(Phần đại lược trích Trung Bộ Toát Yếu do Ni Sư Trí Hải biên soạn, nội dung chính do
HT Minh Châu dịch)


I. Đại lược
Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.


Ðáp: Hai bản kinh cùng có nội dung như sau. Người ta có thể vì thấy khổ sinh tử nên phát tâm xuất gia tìm cách chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này, như người vào rừng tìm lõi cây. Nhưng có người, sau khi xuất gia, vì danh dự lợi dưỡng và sự tôn kính của người đời, đâm ra tự mãn, tham đắm, tự cho đã đạt mục đích. Người này ví như kẻ thay vì tìm lõi cây, lại đem về cành lá.

Có người xuất gia dù được danh dự lợi dưỡng cung kính cũng không phóng dật, sống có giới hạnh. Do thành tựu giới đức, vị ấy khen mình chê người, trở nên phóng dật: như người
tìm lõi cây mà chỉ đem về vỏ ngoài.

Hạng thứ ba là người sau khi thành tựu giới, tập thiền định, do thành tựu thiền định, đâm ra tự mãn, khen mình chê người, trở nên phóng dật. Vị này giống như người đi rừng cốt lấy
lõi cây nhưng chỉ đem về vỏ trong.

Hạng thứ tư không vì thành tựu thiền định mà phóng dật, nên có được tri kiến, và do tri kiến nên khen mình chê người: hạng này như người đi rừng chỉ đem về giác cây.

Hạng thứ năm nhờ có tri kiến nhưng không phóng dật, mà thành tựu giải thoát tạm thời và giải thoát vĩnh viễn. Tâm giải thoát bất động này chính là lõi cây, là mục tiêu của đời sống phạm hạnh.

II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?


Ðáp:

Mục đích ban đầu và hành trình có thể khác nhau

"Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Vị ấy, vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. "

Có những thành tựu trong đời phạm hạnh nhưng phải bỏ lại tiếp tục đi tới

Này các Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: "Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây một Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong khổ đau, bị chi phối bởi khổ đau. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợidưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật. Vị ấy thành tựu giới đức. Vị ấy do thành tựu giới đức này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy, không do thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu thiền định nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến.
Vị ấy vì thành tựu tri kiến này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu được phi thời gian giải thoát. Này chư Tỷ-kheo, sự tình này không thể xảy ra, Tỷ-kheo ấy có thể từ bỏ phi thời gian giải thoát ấy.

Bất Động Tâm Giải Thoát là cứu cánh chân thực của phạm hạnh

"Như vậy, này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỷ-kheo,tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm về Linh Thứu Sơn? Tôn giả Maha Kassapa là người thế nào?

Đáp:


IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Tu đà huờn, sơ quả, nhập lưu, quả thất lai khác nhau hay giống nhau?

Ðáp:


V. Học và hỏi

Hỏi: Trạng thái "không mong cầu" gì cả có phải là tâm thái giải thoát?


Ðáp:


VI. Đố Vui

Monday, September 11, 2006



Lớp Ngôn Ngữ Thiền Môn ngày 12 tháng 09, 2006


Giảng sư: TK Giác Đẳng


Ngôn ngữ
Phật học cũng có chuyện "bằng mặt không bằng lòng"


(Một số dị biệt trong cách dùng từ vựng giữa Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Đại thừa)


I. Đại lược


Rất thường khi bạn có thể gặp được sự tranh luận phê phán thậm chí nghi ngờ về khả năng hiểu biết giáo lý giữa hai tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa. Họ có thể dùng từ rất giống nhau dù là Hán việt hay Phạm ngữ nhưng ý nghĩa mà họ cho là "đúng" thì hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt nầy có thể là điều tự nhiên. Các truyền thống Phật giáo có nhiều sự dị biệt trong sự giải thích những quan điểm kinh điển. Ở đây không thể nói là định nghĩa nào đúng haysai. Cũng không thể nói rằng phải theo tiêu chuẩn nầy hay nguyên tắc nọ. Cũng không nên cố gắng, như một số người thường làm, là giải thích cách nào để haibên có thể "gặp nhau". Chúng ta nên thoải mái nhận là cái gì giống nhau là giống nhau, khác nhau là khác nhau. Đề tài nầy sẽ đưa ra một số từ vựng mà hai truyền thống có hai cách hiểu hoàn toàn khác biệt. (bài học sẽ kéo dài nhiều tháng)


II. Nội Dung chính


100 từ vựng mang tính dị biệt giữa hai truyền thống Nguyên thủy và Đại thừa


1. Bồ tát


Bồ tát là âm đọc ngắn của từ Bồ đề tát đoả là phiên âm của Phạm ngữ bodhisattvà (P. bodhisattà) dịch là "giác hữu tình". Những dị biệt trong cách dùng từ ngữ nầy có thể tóm tắt mấy điểm dưới đây:


















Theo Phật giáo Nguyên thủy

Theo Phật giáo Đại thừa

1. Bồ tát là bất cứ chúng sanh nào phát tâm cầu giác ngộ và
đang tu tập dẫn đến giác ngộ giải thoát.


1. Bồ tát là một quả chứng cao hơn thinh văn và duyên giác.

2. Bồ tát là giai đoạn tu tập dẫn đến cứu cánh giác ngộ

2. Bồ tát là lý tưởng cao nhất của Phật giáo Đại thừa. Kinh
sách Phật giáo Đại thừa ghi rằng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát từng là vị chánh
đẳng chánh giác nhưng sau nầy trở xuống thành bồ tát phò đức Phật Thích Ca
và Đức A Di Đà

3. Sự cao quí của chư vị bồ tát là cho cái khó cho, nhẫn cái
khó nhẫn, là cái khó làm. Sở dĩ gọi là khó vì các ngài có khả năng giới hạn
như những chúng sanh khác nhưng lại làm những điều mà chúng sanh bình thường
khó làm được.

3. Bồ tát thường là vị đạt đến cảnh giới cao siêu có nhiều
năng lực như "thiên thủ thiên nhãn" . Người Trung hoa thường cầu bồ tát gia
hộ hơn là cầu Phật gia hộ. Đức Quan Thế Âm, Đức Địa Tạng Vương là những vị
bồ tát tiêu biểu.

4. Bồ tát hạnh là ba la mật hạnh. Các ngài huân tu và bổ túc
đầy đủ các pháp ba la mật để cuối cùng chứng đắc quả vị giác ngộ giải thoát

4. Chư bồ tát thường có "biệt hạnh" hay chuyên hạnh. Thí dụ
như Đại bi Quán thế âm, Đai hạnh Phổ hiền, Thường Tinh tấn bồ tát, Thường
Hoan Hỳ bồ tát.

5. Tất cả hạnh lành gọi là bồ tát hạnh đều phải đi với "nekkhamma
- bản nguyện đoạn tận phiền não". Nếu thiếu yếu tố nầy không thành ba la mật
hạnh.

6. Định nghĩa về bồ tát theo Tam Tạng Pàli tương đối giản dị:
ai phát tâm cầu giác ngộ giải thoát và đang hành trình trên đường đó gọi là
bồ tát. Có tu có chứng, Tu tập có khác biệt thì sự đắc chứng cũng khác biệt

6. Bồ tát đạo là nền tãng của Phật giáo Đại thừa. Giáo lý nầy
được khai triển trở thành một tôn chỉ và lý tưởng. Bồ tát đạo được xem là "cương
lĩnh nhập thế" đối ngược lại với sự giải thoát "xuất thế" của Phật giáo
Nguyên thủy. Tiêu biểu nhất của quan điểm nầy được ghi trong "bồ tát giới"


Phần III: Người xưa chốn cũ


Devadatta là ai? Xin cho biết thêm vài chi tiết
về Kapilavatthu


Phần IV. Chữ và nghĩa


Chuyển luân vương được hiểu thế nào trong kinh điển Phật giáo? Bảy báu của
Chuyển luân vương là gì?


Phần V. Học và hỏi


Có quan trọng để biết sự tu tập của mình có phải là bồ tát hạnh hay không
phải ?





Sunday, September 10, 2006

Lớp giảng Phật Học Thường Thức ngày 10 tháng 09, 2006.

Giảng sư: TK Tuệ Quyền

Làm Quen Với Tam Tạng Kinh Điển
Phần III: Vài đề nghị về việc đọc kinh điển

http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm


I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp: Kinh điển Phật giáo, dù chỉ nói riêng Tam Tạng Thánh Điển Pàlì, là biển học mênh mông bát ngát. Nếu bạn không tìm được điều gì thích thú để đọc thì có thể vì chưa đủ “duyên may”. Duyên may ở đây có thể là thiếu người hướng dẫn tốt, thiếu tài liệu, hoặc thiếu phương pháp tìm hiểu. Tiến sĩ John Bullit trong phần III của bài học hôm nay chia sẻ một số kinh nghiệm cá nhân trong việc học hiểu kinh điển. Những gợi ý nầy không nhất thiết áp dụng cho tất cả nhưng chắc chắn chứa đựng một số đề nghị vô cùng hữu dụng. Cũng phải nói thêm rằng đây là một trình bày hiếm hoi lien quan đến việc nghiên cứu kinh điển mà chúng ta có thể tìm thấy trong kho tàng Phật học Việt Nam.

II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?

Ðáp: Nếu bạn không thích đọc một bài kinh, hãy đọc lại nó.
Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh chỉ làm bạn bực bội. Hãy tin cậy vào phản ứng này; nó có nghĩa là quyển kinh đó có điều gì đó quí giá trị để dạy cho bạn, dù rằng có thể là bạn chưa sẵn sàng cho điều đó. Hãy làm dấu ở đấy là bây giờ hãy tạm để cuốn kinh sang môt bên. Một vài tuần,tháng, năm sau, hãy cầm nó lên và thử đọc lại. Có lẽ một ngày nào đó bạn sẽ kết nối được với nó

Nếu bài kinh buồn chán, khó hiểu, không hỗ trợ bạn , thì hãy để nó sang một bên.
Tùy theo mối quan tâm hiện tại và chiều sâu của việc tu tập, bạn có thể thấy rằng một quyển kinh nhất định nào đó là không có ý nghĩa hoặc có vẻ thật khó đọc, buồn chán Hãy để nó sang một bên và thử đọc một quyển khác. Tiếp tục thử cho đến khi bạn tìm thấy một quyển gắn kết với bạn trực tiếp như là dành riêng cho bạn.

Một bài kinh tốt có thể khiến cho bạn ngưng lại khi đang đang đọc nó.

Ý nghĩa tòan bộ của việc đọc kinh là làm cho bạn phát triển chánh kiến, sống một cuộc sống công chính, và thiền định đúng đắn. Do đó, nếu bạn đang đọc, mà bạn cảm thấy có sự thôi thúc ngày càng tăng buộc bạn phải để sách, ngối xuống nơi yên tĩnh, nhắm mắt và dõi theo hơi thở, thì cứ làm như vậy! Quyển kinh sẽ hòan thành mục đích của nó. Nó sẽ vẫn còn đấy khi bạn trở lại với nó sau này.

Đọc bài kinh lớn tiếng từ đầu đến cuối.
Điều này có ích theo một số phương diện: nó khuyến khích bạn đọc từng chữ của quyển kinh, nó rèn luyên miệng của bạn sử dụng chánh ngữ, và nó dạy cho tai bạn cách nghe Giáo Pháp

Nghe Giáo Pháp ở các mức độ khác nhau.
Nhiều quyển kinh đưa ra các Giáo Pháp đồng thời ở một số mức độ, và tốt cho việc phát triển tai nghe Giáo Pháp của bạn. Thí dụ, khi đức Phật giải thích cho các môn đồ của ngài những điểm tế vi của của chánh ngữ, hãy lưu ý cách mà chính đức Phật sử dụng lời nói[MN 58]. Đức Phật có “thực hành những điều ngài rao giảng không”? Bạn có không?

Đừng bỏ qua những chỗ lập đi lập lại.
Nhiều quyển kinh có những đọan lập đi lập lại . Hãy đọc quyển kinh này như là hát một bản nhạc: khi bạn hát hoặc nghe một bài hát, bạn không bỏ qua mỗi điệp khúc; cũng giống như vậy, khi bạn đọc một quyển kinh, bạn không nên bỏ qua những đọan lập lại . Cũng như trong nhạc, những đọan lập lại trong kinh chứa đựng những “biến tấu” bất ngờ - và quan trọng – mà bạn không muốn bỏ sót .

Thảo luận kinh với một hoặc hai người bạn .
Bằng cách chia sẻ những nhận xét và những ý kiến phản hồi với một người bạn, cả hai bạn đều có thể đào sâu hiểu biết của mình về quyển kinh. Lưu y' đến khả năng hình thành một nhóm nghiên cứu kinh không theo thủ tục quy định. Nếu bạn có những câu hỏi lởn vởn trong đầu về một quyển kinh, hãy nhờ sự hướng dẫn của một vị thầy có kinh nghiệm và tin cậy. Tham khảo ý kiến của các trưởng lão sư và ni, vì nhãn quan độc đáo của họ về giáo pháp thường có thể giúp bạn đột phá qua những nút chặn của sự phân vân.

Học một ít tiếng Pali.
Một khi bạn đã đọc được một vài quyển kinh hoặc một vài bản dịch khác nhau của cùng một quyển kinh, bạn có thể thấy rằng tự mình thấy khó hiểu do những cách chọn từ cụ thể. Chẳng hạn như, tại sao dịch giả này dùng từ “các niệm xứ” trong khi người kia thì dùng “khung tham chiếu”? Những cụm từ này thật sự chỉ cho cái gì? Quay sang một quyển tự điển Pali-Anh và tra từ satipatthana (và các yếu tố thành phần của nó) có thể giúp bạn rọi ánh sáng lên từ này, dọn đường cho thâm chí việc nghiên cứu chư kinh nhiều lợi lạc hơn.

Đọc những điều mà người khác đã nói về bài kinh.
Đọc những gì mà các nhà chú giải – kim và cổ - đã nói về các quyển kinh luôn luôn giúp ích cho bạn. Một số người nhận thấy rằng các chú giải Tam Tạng cổ, đặc biệt là những chú giải do tác giả trung cổ Buddhaghosa – là hữu ích. Một sô kha khá những chú giải này hiện có với bản dịch tiếng Anh do nhà xuất bản Pali Text SocietyPali Text Society và Buddhist Publication Society. Một số người thích các nhà chú giải hiện đại hơn, như là những tác giả đã viết trong Wheel Publications của Buddhist Publication Society. Nhiều quyển sách nhỏ và những bài nổi tiếng đã được viết bởi các tác gia như là các Ngài Bodhi, Khantipalo, Ñanamoli, Narada, Nyanaponika, Soma, và Thanissaro. Bạn cũng có thể thưởng ngọan những dẫn nhập và chú thích tuyệt vời của Ngài Bhikkhu Bodhi đối với những bài Kinh Trung Bộ do Đức Phật thuyết giảng (Boston: Wisdom Publications, 1995) và Những bài Trường Bộ Kinh của đức Phật do được chú giải bởi Ngài Maurice Walshe (Boston: Wisdom Publications, 1987). Cũng nên đọc từ các bậc thầy trong Thai forest traditions (Truyền Thống Ẩn cư trong rừng Thál lan), vì chúng đưa ra những nhãn quan mới mẻ, độc đáo về chư kinh dựa trên những kinh nghiệm thiền thâm sâu.

Hãy để kinh điển có thời gian chín muồi.

Bất kể thông điệp hữu ích nào bạn tìm thấy trong kinh, bất cứ hương vị hài lòng nào còn lưu lại hãy để cho chúng sinh sôi, phát triển theo dòng tu tập thiền định và trong cuộc sống của bạn. Trải qua thời gian, những tư tưởng, những ấn tượng, và những thái độ do quyển kinh chuyển tải sẽ dần dà ngấm vào tâm thức của bạn, hình thành nên quan điểm của bạn về thế giới. Một ngày nào đó bạn có thể ngay cả tìm thấy mình ở giữa một thể nghiệm khác thể nghiệm thường ngày khi đột nhiên quán niệm về quyển kinh mà bạn đọc từ lâu bừng hiện trong tâm, mang theo với nó Giáo Pháp đầy uy lực hòan tòan phù hợp cho sát na hiện tiền.
Để tạo điều kiện cho quá trình chín dần này, hãy để cho chính bạn có đầy đủ chỗ cho kinh điển. Đừng chèn nhét việc đọc kinh của bạn vào trong những họat động khác của bạn. Đừng đọc quá nhiều kinh cùng một lúc. Hãy làm cho việc nghiên cứu kinh là một họat động chiêm nghiệm nhuốm màu thiền, đặc biệt. Đó sẽ là một kinh nghiệm thú vị . Nếu nó trở nên khô khan và bức rức thì hãy để nó sang một bên và thử lại vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng sau. Việc nghiên cứu kinh cần nhiều hơn là chỉ đọc nó một hoặc hai lần và tư nhủ: “Đấy mình đã làm xong kinh Niệm Xứ (Satipatthana Sutta). Kế tiếp là gì nhỉ?” Sau khi bạn đọc xong một quyển kinh, hãy dành một ít thời gian sau đó cho thiền định sổ tức tạo điều kiện cho Giáo Pháp lắng đọng trong lòng bạn.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm về Trưởng lão Maha Kassapa và tại sao cuộc kết tập Tam Tạng lần đầu tổ chức tại thành Vương Xá?


Đáp: Maha Kassapa là con của một triệu phú gia trong xứ Magadha. Tài sản, ruộng đất, tôi tớ của ông không thua kém sự nghiệp của Ðức Vua Bimbisàra. Maha Kassapa là bậc trí tuệ hiếm có trong đời. Vừa lớn lên, ông đã tỏ ra là người không màng của cải, lại còn nhờm gớm ái tình nhục dục. Vâng lời cha mẹ, ông buộc lòng phải cưới một người vợ rất xinh đẹp tại thành Vesàli. Gặp người vợ cũng có tánh nhờm ghét ái tình như ông nên hai vợ chồng sống chung nhau trọn 12 năm mà không gần gũi nhau.

Cha mẹ đã qua đời, vợ chồng Maha Kassapa giải quyết việc xuất gia rất dễ dàng. Hai ông bà phóng thích tôi trai tớ gái, bán hết gia tài sự nghiệp lấy tiền bố thí cho người nghèo khó, rồi chia tay nhau ra đi, mỗi người mỗi hướng tìm thầy học đạo.
Khi Ðức Phật đến Vương Xá, Maha Kassapa đến xin quy y thọ giáo; chẳng bao lâu ông đắc quả A-La-Hán và trở thành một vị Ðại Ðệ tử tín cẩn của Ðức Bổn Sư. Sau bà vợ được xuất gia làm Tỳ-Khưu-ni đắc quả A-La-Hán.

Kinh sách ghi rằng Ðức Phật tặng y Ca-Sa của Ngài cho Ðại-Ðức Maha Kassapa và đối đãi ông như người bạn thân. Ðại Ðức Maha Kassapa có uy tín lớn, nên sau giờ Niết-Bàn của Ðức Phật, Ngài đảm đương nhiều trọng-nhiệm: chủ-tọa lễ hỏa-táng Ðức-Phật tại Kurinara và sau đó 100 ngày, chủ-tọa Ðại hội Thánh Tăng, kết-tập Tam-Tạng lần đầu tiên tại Rajagaha (Vương Xá). (Trích “Trên đường hoằng pháp của Phật tổ Gotama” của Trùng-Quang Nguyễn Văn Hiểu)

Sau khi Đức phật nhập Niết bàn một tuần, có vị xuất gia lúc đã già tên Subhadda bảo các tỳ khưu là khi không còn Đức Phật nữa, thì họ có thể thích làm điều gì thì làm điều đó, hay điều gì không thích thì không làm, không sợ bị Đức Phật khiển trách nữa. Nghe được điều này, Trưởng lão Mahà Kassapa đề nghị chư Tăng mở đại hội kết tập để “trùng tụng Pháp và Luật trước khi điều Phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều Phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về Phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về Phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.”

Chư Tăng nhận thấy Thành Ràjagaha là nơi có tiềm năng về vật thực (mahàgocara) và có nhiều chỗ trú ngụ nên quyết định thỉnh mời 500 vị A-la-hán trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, và các tỳ khưu khác được thông báo để không đi đến nhập Hạ ở nơi này.
Trong đại hội kết tập, Đại đức Mahà Kassapa đã hỏi đại đức Upàli về Luật (Vinaya), Đại đức Ananda về Pháp (Dhamma). Trong cuộc kết tập về Luật này đã hiện diện năm trăm vị tỳ khưu, không thiếu và không dư, do đó, cuộc kết tập này được gọi là “liên quan năm trăm vị” hay " Ngũ bách kết tập ".



IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Kinh – sutta nghĩa là gì? Tại sao có lúc chữ “kinh” dùng chung cho kinh điển lại có lúc dùng riêng cho Kinh Tạng?

Ðáp:

V. Học và hỏi

Hỏi: Phải chăng nghiên cứu kinh điển nhiều quá có thể làm trở ngại cho sự hành trì?

Ðáp:

VI. Đố Vui



Lớp giảng Phật Giáo Sử. Ngày 11 tháng 09, 2006

Giảng sư: Ni Sư Liễu Pháp./Ðiền Khuyết: TK Tuệ Siêu

Cuộc đời Đức Phật. Con Đường hoằng đạo (tt)
Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch: Hữu Song Nguyễn Đức Tư

Phần I: Đại cương

Sự quảng bá rộng rãi của Phật pháp đã thay đổi hẳn vùng lưu vực sông Hằng vào thời Phật tại thế. Mãi đến 1700 sau cũng thế. Chưa bao giờ có sự thay đổi sâu đậm về tín ngưỡng, văn hoá, xã hội trọng lịch sử nhân loại mang tầm cở tương tự. Những thân quyến của Đức Phật cũng đến với giáo pháp. Mọi tầng lớp trong xã hội đều thấm nhuần tinh thân thực tiễn, từ bi và niềm tin ở nghiệp báo. Tất nhiên điều nầy cũng chi phối nhiều những sự kiện mang tính xã hội như những tranh chấp, va chạm giữa quốc gia với quốc gia, cá nhân với cá nhân. Trong tất cả trường hợp đều cho thấy một điều: Đức Phật kêu gọi sự xây dựng bằng tình thương và trí tuệ.


Phần II. Nội dung chính

Tế độ quyến thuộc

Một năm sau sự đắc đạo của Đức Phật, Tịnh Phạn vương nghe tin về sự vinh quang của con mình đã mời Đức Phật đến viếng Ca-tì-la-vệ. Theo lời phụ vương, Đức Phật về nhà. Tịnh Phạn Vương đón tiếp Ngài rất trọng thể vì bây giờ người con của vua đã là một thánh nhân. Qua ngày hôm sau Đức Phật đi quanh kinh thành để khất thực. Đối với vợ Ngài, Da-du-đà-la, thì trong chiếc áo tu sĩ Ngài trông huy hoàng hơn là mặc bồ trang phục thái tử. Nàng phủ phục dưới chân Ngài vào bảo con mình: “La-hầu-la (Rahula) con ơi, con hãy xin cha trao gia tài cho con đi”. Đức Phật liền ban cho cậu con trai một gia tài quý giá bằng cách làm cho cậu trở thành một tín đồ mới, một tu sĩ tập sự. Hàng trăm người trong dòng họ Thích ca đã cởi bỏ trang phục hoàng gia của họ để khoác tấm áo vàng. Cả đến Ưu-ba-ly (Upali), người thợ hớt tóc và là người phụ trách y phục của hoàng gia, cũng rời bỏ gia đình để trở thành đệ tử xuất gia của Đức Phật.

Đem ánh sáng từ bi và trí tuệ đến mọi giai cấp trong xã hội

Số tín đồ thế tục cứ tiếp tục tăng thêm nhanh chóng. Cấp-cô-độc (Anathapindika), một thương gia giàu có ở Xá-vệ (Sravasti) đã mua lại của Thái tử Kỳ-đà (Jeta) một khu vườn với số vàng lát kín cả mặt đất và dựng lên một tu viện, gọi là Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên (Jetavana Vihara), để cúng dường cho Tăng đoàn. Hoàng đế Ba-tư-nặc (Prasenajit) nước Kiều-tất-la, một phu nhân giàu có tên Visakha và nhiều nhân vật nổi tiếng của nước Kiều-tất-la đều trở thành môn đệ của Đức Phật. Sau đó, Ngài đi đến thành Vương-xá (Rajagrha), tại đây một ngự y là Jivaka Kumarabhrtya trở thành đệ tử Phật và là người săn sóc sức khoẻ cho Ngài và Tăng chúng.

Ảnh hưởng xã hội một cách sâu đậm

Ba năm sau đó, xảy ra một bắt hòa giữa những người Sakya và người Koliya về việc dùng nước của con sông ngăn đôi lãnh thổ của họ. Nếu không có sự can thiệp của Đức Thế tôn thì mối bất hòa kia sẽ trở thành một cuộc chiến dữ dội. Sau sự cố này thì đến sự băng hà của vua Tịnh Phạn, và di mẫu Kiều-đàm-ni (Gotami) của Đức Phật đã xin cho bà gia nhập Tăng đoàn. Thị giả A-nan-đà (Ananda) đã nhiệt tình nói hộ cho bà. Đây là bước đầu của sự thành lập Tăng đoàn ni chúng ở Ấn Độ. Cho đến bấy giờ, phụ nữ nước này không có quyền tìm đường giải thoát bằng cách xuất gia.


Phần III: Người xưa chốn cũ
Xin cho biết thêm về danh y Jivaka. Koliya là vùng đất thế nào?


Jivaka là vị lương y trứ danh thường ở gần Đức Phật để chăm lo sức khỏe Ngài. Lúc vừa ra đời, mẹ ông đặt ông trong cái thùng rồi đem bỏ trên một đống rác cạnh bên đường. Hoàng tử Abhaya, con của Vua Bimbisara (Bình Sa Vương) tình cờ đi qua, thấy quạ bu xung quanh và khám phá rằng đứa bé còn sống (jivati) nên đem về cho người nuôi dưỡng. Vì lúc tìm ra, ông còn sống nên đặt tên là Jivaka. Vì được một vị hoàng tử đem về nuôi dưỡng nên người ta gọi là Komarabhacca. Đến lúc trưởng thành, ông là một lương y và một nhà giải phẫu đại tài. Sách ghi rằng hai lần ông thành công mỹ mãn cuộc giải phẫu cho một nhà triệu phú mắc phải bệnh đau đầu. Thường ngày ông đến hầu Đức Phật ba lần. Nhân định rằng ông sẽ có thể thành đạt nhiều lợi ích nếu có một tu viện ở gần nhà nên ông cất một cái trong khu vườn xoài của ông. Sau khi hoàn thành công tác xây cất, ông đắc Quả Tu Đà Hườn. Kinh Jivaka Sutta đề cập đến vấn đề ăn thịt là bài kinh mà Đức Phật giảng cho ông Jivaka.
(Trích từ “Đức Phật và Phật Pháp”, Phạm Kim Khánh dịch)

Koliya là một bộ tộc theo chế độ cộng hòa thời Đức Phật. Vua Rama, người sáng lập ra vương quốc này, đã cùng các con trai chặt cây Kola để xây dựng một thành phố ngay trong rừng, và vì vậy mà thành phố đó được đặt tên là Kolanagara, và người dân xứ đó được gọi la Koliya. Xứ này nằm ở phía đông nam cộng hòa Sakya, ranh giới của hai nước là con sông nhỏ bé Rohinì. Xưa có nhiều liên hệ hôn nhân giữa hai dòng họ Sakiyas và Koliyas này, nên người cả hai xứ đều có quan hệ họ hàng với Đức Phật. Một lần do tranh chấp nước tưới từ dòng sông Rohini, hai bộ tộc này đã đánh nhau dữ dội, sau đó nhờ sự can thiệp của Đức Phật mà hai bên đã đi tới một sự thỏa thuận về vấn đề nước tưới và thiết lập liên lạc ngoại giao thân tình như cũ.

IV. Chữ Và Nghĩa
Nói về cuộc đời Ðức Phật thì sơ thời, trung thời và hậu thời là gì? Ðược Phân chia thế nào?

V. Học và Hỏi.
Nếu Ðức Phật là bậc Ðại Bi thì tại sao nhiều việc làm trong đời sống của Ngài phải chờ đến lời thỉnh cầu mới làm ?


VI. Ðố Vui



Saturday, September 09, 2006

Lớp Luật Nghi Cư Sĩ. Ngày 09 tháng 09 năm 2006

Giảng sư: TK Pháp Đăng

Quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái

(Trích Cư Sĩ Giới Pháp do Tỳ Kheo Giác Giới biên soạn)

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp: Đức Phật thường được kính ngưỡng là bậc xuất thế giải thoát. Cái nhìn nầy khiến nhiều người, kể cả một số Phật tử, nghĩ rằng Đức Phật chỉ dạy những gì đoạn tận phiền não giải thoát khổ đau. Thật ra Phật Pháp có nhiều đáp ứng cho mọi khía cạnh trong đời sống con người. Đặc điểm ở đây là những lời dạy cao quý nầy phát ra từ kim khẩu của Đức Đại Bi cách đây 2500 năm vẫn giữ nguyên giá trị thực tiễn trong cuộc sống hôm nay như tự bao giờ. Bài học nầy. tiếp theo bài học tuần trước, trích từ kinh Singalovada Sutta, mà nội dung là tất cả những lời dạy về đời sống cư sĩ cao quí, hiền thiện mà không có bản kinh nào khác có thể so sánh bằng.


II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?


Ðáp: Những gì nên làm giữa cha mẹ và con cái
Điều này cũng được Đức Phật dạy cho gia chủ tử Si°ngālaka. Bổn phận giữa cha mẹ và con cái, ám chỉ sự lễ bái hướng Đông (Puratthimā disā).

Năm bổn phận của cha mẹ đối với con:

1- Ngăn cản làm ác (Pāpā nivārenti)
2- Khuyến khích con làm lành (Kalyāne nivesenti)
3- Cho con học nghề nghiệp (Sippa.m sikkhāpenti)
4- Dựng vợ gả chồng xứng đáng cho con (Pa.tirūpena dārena sa.myojenti)
5- Đúng thời giao gia tài cho con (Samaye dāyajja.m niyyādenti)

Năm bổn phận của con đối với cha mẹ:

1- Nuôi dưỡng cha mẹ (Nesa.m bhara.na.m)
2- Làm việc của cha mẹ (Nesa.m kicca kara.na.m)
3- Giữ truyền thống gia đình (Kulava.msa.thapana.m)
4- Sống xứng đáng hưởng thừa tự (Dāyajjapa.tipajjana)
5- Khi cha mẹ chết, làm phước hồi hướng (Dakkhi.nānuppadāna.m). -- D. III.189


Trong tất cả quan hệ, điều cốt yếu là nghĩ về lợi ích và an lạc của nhau

Thế gian gọi đó là tình người, Phật pháp gọi là từ mẫn. Khi thương một người một cách chân thành thì cần nghĩ đến lợi ích của người ấy. Tâm từ của cha mẹ đối với con được nêu rõ cụ thể là :"Cho con học nghề nghiệp (Sippa.m sikkhāpenti), Dựng vợ gả chồng xứng đáng cho con (Pa.tirūpena dārena sa.myojenti) Đối lại, tình thương của con cái đối với cha mẹ nên biểu hiện bằng: "Nuôi dưỡng cha mẹ (Nesa.m bhara.na.m), Làm việc của cha mẹ (Nesa.m kicca kara.na.m) ". Những điều nầy được nói rõ đến mức không cần giải thích gì thêm nữa.

Thiện pháp là giá trị căn bản của mọi hành xử

Tình thương đơn thuần không đủ mà phải biết thương một cách chánh đáng. Đức Phật đặc biệt dạy về khía cạnh chân thiện của mọi quan hệ. Thương nhau bằng bản năng tự nhiên chưa đủ mà cần được giáo dục để có hiểu biết cái gì nên và không nên làm. Đối với con cái, Đức Phật dạy: Ngăn cản làm ác (Pāpā nivārenti),
Khuyến khích con làm lành (Kalyāne nivesenti). Đối với cha mẹ con cái cũng phải biết: Khi cha mẹ chết, làm phước hồi hướng (Dakkhi.nānuppadāna.m). Những điều nầy cho thấy cho dù trong đời sống tại gia cư sĩ thì sự hiểu biết Phật Pháp vẫn vô cùng cần thiết.

Kế thừa một cách tốt đẹp là điều đáng làm

Một trong những khía cạnh giống nhau giũa đời và đạo là sự truyền thừa. Nhiều người nghĩ rằng Phật pháp dạy các pháp hữu vi là vô thường huyễn hoá thì không cần gì phải quan tâm sự tồn tại của kiếp phù sinh. Đúng ra thì dù là sự duy trì Phật Pháp hay thừa kế truyền thống gia đình đều là những điều mà Đức Phật và các vị hiền trí giảng dạy. Tất nhiên những điều nầy không mang tính tuyệt đối nhưng vẫn có một giá trị nhất định. Trong đề tài nầy, Đức Phật dạy cha mẹ đối với con cái: Đúng thời giao gia tài cho con (Samaye dāyajja.m niyyādenti). Và ngược lại con cái đối với cha mẹ nên biết: Giữ truyền thống gia đình (Kulava.msa.thapana.m), Sống xứng đáng hưởng thừa tự (Dāyajjapa.tipajjana)


III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm về tôn giả Rahula? Vajji được ghi nhận thế nào trong kinh điển Phật giáo?


Đáp:

IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Tùy pháp và hành pháp khác nhau thế nào?


Ðáp:

V. Học và hỏi

Hỏi: Một mặt Đức Phật dạy làm con nên duy trì truyền thống gia đình. Mặt khác Ngài khuyến khích xuất gia. Điều đó có mâu thuẫn chăng?

Ðáp:

VI. Đố Vui

Thursday, September 07, 2006

Lớp Thiền Học Ngày 07 tháng 09, 2006
Giảng sư: TK Giác Đẳng

Niệm Từ Phạm Trú (tt)

(Thanh Tịnh Đạo bản Việt dịch của Ni Sư Trí Hải )

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học.

Ðáp: Người tu tâm từ phạm trú phải có thái độ hoà ái với bản thân. Đây là điểm đặc biệt tế nhị. Ai cũng nghĩ rằng mình vốn thương mình quá nhiều thì không cần thiết để nói thêm. Người ta cũng dể dàng rơi vào sự chấp ngã quá đáng do quá thương mình. Đức Phật dạy nên có thái độ từ hoà với bàn thân. Bài học hôm nay là vài quan điểm trích từ Thanh Tinh Đạo của Ngài Buddhaghosa về sự trưởng dưỡng từ tâm đối với tự thân.


II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?

Ðáp:


Từ mẫn với mình có khác với vị ngã.

8. Trước tiên tâm từ nên được trải đến chính bản thân hành giả, lặp đi lặp lại như sau: "Mong rằng ta được an lạc, thoát khổ ách" hoặc: "Mong rằng tôi thoát được hận thù, buồn khổ, lo âu và sống hạnh phúc"

9. Như vậy, có phải là mâu thuẫn với những gì được nói ở trong kinh điển hay không? Vì không có chỗ nào nói tới việc trải tâm từ đến chính mình trong Vibhanga: "Và làm thế nào một tỷ kheo tu tập biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ? Giống như vị ấy có tâm từ khi thấy một người rất thân mến, cũng vậy vị ấy rưới khắp tất cả hữu tình với từ tâm". (Vbh. 272), và trong Patisambhidà thì nói: "Bằng năm cách nào, từ tâm giải thoát được làm cho sung mãn không giới hạn": "Mong rằng tất cả chúng sanh thoát khỏi hận thù, buồn khổ, lo âu và được sống trong hạnh phúc" "Mong rằng mọi loài có thở... mọi loài được sinh ra... mọi người... mọi kẻ có một nhân tính, đều thoát khỏi hận thù, buồn khổ, lo âu và sống được an lạc." (Sn. 145). Có phải là mâu thuẫn với những bản văn này?

10. Không mâu thuẫn. Tại sao không? Bởi vì, văn trên là nói đến định. Còn sự tu tập sơ khởi này, trải tâm từ đến chính bản thân, là muốn nói chuyện lấy bản thân để làm ví dụ. Vì dù có tu tập tâm từ cho đến một trăm năm hay một ngàn năm theo kiểu:"Tôi được an lạc hạnh phúc. " v.v... thì cũng không bao giờ đắc định. Nhưng nếu hành giả tu tập tâm từ như sau: "Tôi được an lạc. Cũng như tôi muốn an lạc và sợ đau khổ, như tôi muốn sống, không muốn chết, thì các chúng sinh khác cũng vậy." Khi lấy bản thân làm ví dụ, thì ước mong cho những chúng sinh khác được an lạc hạnh phúc khởi lên nơi hành giả. Và phương pháp này đã được ám chỉ bởi Ðức Thế Tôn khi ngài nói:

"Tâm ta đi cùng khắp,
tất cả mọi phương trời,
cũng không tìm thấy được,
ai thân hơn tự ngã,
tự ngã đối mọi người,
quá thân ái như vậy.
Vậy ai yêu tự ngã,
chớ hại tự ngã người (S. ii, 75)

Ghi nhận những đức tánh tích cực nơi mình

11. Bởi vậy hành giả trước hết nên lấy mình làm ví dụ, trải từ tâm đến khắp bản thân. Kế tiếp, để tiến hành sự tu tập một cách dễ dàng, hành giả có thể tưởng đến những món quà, những lời tử tế v.v...dễ mến, dễ yêu, những đức hạnh, đa văn khả kính, khả phục nơi một vị giáo thọ sư hay đồng giáo thọ sư, một vị y chỉ sư hay đồng y chỉ sư. Trải tâm từ đến vị ấy theo cách khởi đầu là: "Mong rằng con người hiền thiện ấy được hạnh phúc an vui, thoát mọi khổ ách". Với một người như thế làm đối tượng, dĩ nhiên là hành giả đắc định liền.

12. Nhưng nếu vị tỳ kheo ấy không chỉ bằng lòng với bấy nhiêu, mà muốn phá vỡ những hàng rào, thì kế đó vị ấy nên trải tâm từ đến một người bạn rất yêu mến, rồi đến một người dửng dưng xem như người rất yêu mến, rồi đến một kẻ thù xem như không hận thù. Và trong khi làm như vậy, hành giả cần khiến cho tâm nhu nhuyễn dễ sử dụng ở mỗi trường hợp trước khi qua trường hợp kế tiếp.


Tâm từ cần sự phát triển tuần tự

13. Nhưng nếu hành giả không có kẻ thù, hoặc nếu hành giả thuộc hàng người vĩ đại không xem người nào là kẻ thù dù cho người đó có hại mình, thì vị ấy không nên để tâm đến chuyện trải tâm từ đến một kẻ thù và nghĩ:"Bây giờ từ tâm của ta đã trở nên dễ dàng đối với một người dửng dưng. Ta nên trải tâm từ ấy đến một kẻ thù." Vì đối với một người thực sự có một kẻ thù, thì mới nên trải tâm từ đến kẻ ấy như đến một người không thân không thù.


III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm về câu chuyện Phật thuyết Kinh Từ Bi?


Đáp: Vào lúc ấy mùa mưa sắp đến, sau khi được Đức Phật ban dạy những đề mục hành thiền, một nhóm tỳ khưu ra đi, tìm nơi thích hợp để thực hành. Các Ngài đến một địa điểm vắng vẻ yên tĩnh và quyết định ở lại đó hành thiền nhằm mục tiêu giải thoát.
Các vị thọ thần sống trên cây cảm thấy bất tiện nên tìm cách làm cho chư tỳ khưu không còn ở được và phải ra đi. Đêm đêm các vị thọ thần làm đủ cách để phá khuấy không cho chư tăng ở yên hành thiền.
Chư vị tỳ khưu thấy khó mà an trụ tâm trong tình trạng như vậy nên trở về chùa bạch lại tự sự với Đức Thế Tôn.
Đức Phật dạy chư Tăng bài Kinh Metta Sutta (kinh về tâm Từ) và khuyên các vị này trở lại ngay địa điểm trước rồi cùng đọc lên bài Kinh này khi vào rừng. Chư Tăng làm theo lời dạy.
Những tư tưởng Từ ái an lành được ban rải ra, thấm nhuần bầu không khí trong toàn khu rừng. Các vị thọ thần ở khắp nơi trong rừng nghe Kinh cảm thấy thanh bình an lạc, phát tâm kỉnh mộ chư Tăng, và kể từ đó thay vì khuấy nhiễu làm trở ngại, họ tận tình hộ trì và nâng đỡ chư Tăng.
Sau ba tháng an cư kiết hạ, tất cả chư vị tỳ khưu trong nhóm đều chứng đắc Đạo Quả A La Hán.

IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Từ và bi khác nhau thế nào? tại sao hai từ đó thường đi chung?


Ðáp:Người ta thường quan niệm từ bi là tình thương quảng đại bao dung đối với muôn loài; hễ có tâm từ là có tâm bi, có tâm bi là có tâm từ. Vì họ hiểu hai nghĩa gần giống nhau. Do đó người ta thường dùng hai tiếng từ bi gọi chung với nhau.
Thực ra, từ bi có hai ý nghĩa độc lập.
Từ (mettā) có đặc tính mát mẽ, vô sân; thái độ của tâm từ là thân thiện, hài hòa
Bi (karu.nā) có đặc tính rung động, cảm động; thái độ của tâm bi là xót thương, trắc ẩn.
Tâm từ phát tiết từ nội tâm mát mẽ lan tỏa đến muôn loài.
Tâm bi thể hiện khi có mặt chúng sanh đang khổ đau mà mình thấy hoặc nghĩ đến.


V. Học và hỏi

Hỏi: Những người vì tha nhân mà quên mình có gọi là thiếu lòng từ với bản thân không ?


Ðáp: Là người đệ tử Phật là luôn mang trên mình trọng trách "Hành Như Lai xứ tác Như Lai sự", mong đem lại hạnh phúc cho tha nhân. Khi gặp chúng sanh đang khổ thì thương xót cứu giúp hay không bực phiền với chúng sanh, Đức Phật gọi là Từ Bi.

Nói đến lòng Từ (Mettā) là tâm không nóng nảy, tâm mát mẻ với chúng sanh, mong chúng sanh luôn an lạc. Lòng Bi (Karun.ā) là không mong làm hại chúng sanh, thương xót mong chúng sanh thoát khổ.

Trong việc hoằng hóa độ sanh vì tha nhân mà quên mình, truớc tiên là giúp chúng sanh mau thoát khổ và đối với bản thân đã tạo một công đức thiện sự. "Lợi người mà lợi mình thì nên làm". Đó là một việc làm Đức Phật tán thán.


VI. Đố Vui

1/ Người tu tập tâm từ là người giữ tâm thái không yêu không ghét chúng sanh. Ý nghĩa nầy có đúng không?
a. Đúng, vì ái luyến và sân hận đều là trạng thái nghịch nghĩa với tâm từ.
b. Không đúng, vì thái độ không yêu không ghét không phải là trạng thái thân thiện của tâm từ.
c. Đúng, nếu đó là tâm thái hài hòa nhưng không bị hạn chế bởi tham sân
d. Cả ba lập luận trên đều sai

2/ Theo a-tỳ-đàm, tất cả tâm thiện đều có thuộc tính vô sân (adosa), mà đặc tính của tâm từ là vô sân. Như vậy người làm thiện là người an trú tâm từ phải chăng?
a. Nếu là vậy thì người đang có tâm thiện cũng gọi là người đang an trú tâm từ
b. Đặc tính của tâm từ là trạng thái vô sân nhưng không phải tâm sanh có thuộc tánh vô sân gọi là tâm từ.
c. Người an trú tâm từ là phải phát huy đặc tính vô sân biến thành một đức tính đặc biệt
d. Câu b và c đúng

3/ Trong bốn vô lượng tâm, có đặc tính nào tương đương với tâm từ
a. Từ vô lượng tâm
b. Bi vô lượng tâm
c. Hỷ vô lượng tâm
d. Xã vô lượng tâm


Tuesday, September 05, 2006

Lớp Trung Bộ Kinh Ngày 06 tháng 09, 2006

Giảng sư: TK Tuệ Siêu

Trung Bộ Kinh - Bài kinh số 63 - Tiểu Kinh Malunkyaputta

(Phần đại lược trích Trung Bộ Toát Yếu do Ni Sư Trí Hải biên soạn, nội dung chính do HT Minh Châu dịch)

I. Đại lược

Hỏi: Xin cho biết đại lược về bài học
.

Ðáp: Malunkyàputta (Man đồng tử) định bụng sẽ hoàn tục nếu Phật không giải đáp cho mình bốn vấn đề: thế giới thường hay vô thường (thời gian), hữu biên hay vô biên (không gian); thân và mạng (tự ngã) là một hay khác; Như lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết (Như lai). Mỗi lập trường đều bao hàm bốn câu: một chính đề, một phản đề, một phối hợp cả hai và một phủ nhận cả hai, thành 16.

Man đồng tử đi đến bạch Phật, Ngài biết thế nào thì hãy trả lời thế ấy, và nếu không biết hãy thẳng thắn đáp là không biết.

Phật hỏi lại, khi ông xuất gia có được Ngài hứa hẹn sẽ giải đáp những điều ấy không. Ông đáp không, Phật dạy do vậy Ngài không có gì ràng buộc. Nếu ai xuất gia để mong Phật giải đáp những vấn đề ấy, thì họ sẽ chết mà vẫn không được thỏa mãn.


II. Nội dung chính

Hỏi: Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay ?


Ðáp:

Đức Phật không dạy giáo pháp để thoả mãn thị hiếu chúng sanh


-- Này Malunkyaputta, Ta có nói với Ông: Này Malunkyaputta, hãy đến và sống Phạm hạnh theo Ta, Ta sẽ trả lời cho Ông: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Hay Ông có nói với Ta như sau: Bạch Thế Tôn, con sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn, nếu Thế Tôn sẽ trả lời cho con: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Như vậy, này Malunkyaputta, Ta không nói với Ông: Này Malunkyaputta, hãy đến và sống Phạm hạnh theo Ta và Ta sẽ trả lời cho Ông: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", và Ông cũng không nói với Ta: Bạch Thế Tôn, con sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn, nếu Thế Tôn sẽ trả lời cho con: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Sự tình là như vậy, thời này kẻ ngu kia, Ông là ai, và Ông phủ nhận cái gì?

Bi kịch của đời sống là chúng sanh không lại đi tìm cái không lợi ích cho sự thoát khổ

Này Malunkyaputta, nếu có ai nói như sau: Ta sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn khi nào Thế Tôn sẽ trả lời cho ta: "Thế giới là thường còn" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được Như Lai trả lời. Này Malunkyaputta, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy lại nói: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc giòng hoàng tộc, hay Bà-la-môn, hay buôn bán, hay người làm công". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi tên là gì, tộc tánh là gì?" Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi là cao hay thấp, hay người bậc trung". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi là da đen, da sẫm hay da vàng". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc làng nào, thuộc thị trấn nào, thuộc thành phố nào". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái cung mà tôi bị bắn, cái cung ấy thuộc loại cung thông thường hay loại cung nỏ". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được dây cung mà tôi bị bắn, dây cung ấy làm bằng cây leo, hay cây lau, hay một thứ gân, hay một thứ dây gai, hay một thứ cây có nhựa". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc một loại cây lau này hay cây lau khác". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, mũi tên ấy có kết lông gì, hoặc lông con kên, hoặc lông con cò, hoặc lông con ó, hoặc lông con công, hoặc lông một loại két". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy được cuốn (parikkhittam) bởi loại gân nào, hoặc là gân bò cái, hoặc là gân trâu, hoặc là gân nai, hoặc là gân lừa". Người ấy có thể nói như sau: "Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc loại tên nhọn, hay thuộc loại tên móc, hay thuộc loại tên như đầu sào, hay thuộc loại tên như răng bò, hay thuộc loại tên như kẽm gai". Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được biết gì.

Cần phân biệt rõ những gì Đức Phật dạy và không dạy

Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những gì Ta không trả lời. Hãy thọ trì là có trả lời những gì Ta có trả lời. Và này Malunkyaputta, điều gì Ta không trả lời? "Thế giới là thường còn", này Malunkyaputta là điều Ta không trả lời. "Thế giới là vô thường" là điều Ta không trả lời. "Thế giới là hữu biên" là điều Ta không trả lời. "Thế giới là vô biên" là điều Ta không trả lời. "Sinh mạng này và thân này là một" là điều Ta không trả lời. "Sinh mạng này và thân này khác" là điều Ta không trả lời. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai không có tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta không trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời? "Ðây là khổ", này Malunkyaputta là điều Ta trả lời". "Ðây là khổ tập" là điều Ta trả lời. "Ðây là khổ diệt" là điều Ta trả lời. "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt" là điều Ta trả lời.

Và này Malunkyaputta,vì sao điều ấy Ta trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, vì vậy điều ấy Ta trả lời. Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hãy thọ trì là trả lời những điều Ta có trả lời.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Hỏi: Xin cho biết thêm về tỳ kheo Malunkyaputta ? Tại sao chùa Kỳ Viên còn gọi là Bố Kim Tự?

Đáp:

IV. Chữ và nghĩa

Hỏi: Dhamma hay pháp được định nghĩa thế nào trong Đạo Phật?


Ðáp:

V. Học và hỏi

Hỏi: Nếu Phật Pháp chỉ đề cập đến cái gì liên hệ giải thoát, giác ngộ thì những môn học nói về người, cõi ...như A Tỳ Đàm có lợi ích gì ?


Ðáp:

VI. Đố Vui

Lớp Ngôn ngữ thiền môn. Ngày 05 tháng 09, 2006

Giảng sư: TK Giác Đẳng

Phiên âm và dịch nghĩa

I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.


Ngôn ngữ Phật học Việt Nam chịu ảnh hướng lớn Phật học Trung Quốc. Điều nầy rất tự nhiên vì yếu tố lịch sử và ngôn ngữ. Trên phương diện nầy có những điều hết sự tiện lợi và cũng lắm phiền toái. Cho tới nay vẫn chưa có một tổ chức hay cá nhân nào được xem là có "thẩm quyền" để đưa ra những tiêu chuẩn cho việc chuyển ngữ và xử dụng các danh từ Phật Học. Hiện thời thì phải nói là hầu hết từ vựng Phật học Việt nam là Hán Việt. Bài học nầy đưa ra một số thí dụ đặc trưng để cho thấy sự đa dạng của việc chuyển ngữ từ vựng Phật học.

II. Nội dung chính

Những từ phiên âm

Xa Nặc > Channa, Đề bà đạt đa > Devadatta, Mục kiền liên > Moggallana

Có những từ dịch nghĩa

Tịnh Phạn > Suddhodana, Vương Xá > Rajagaha, Cấp Cô Độc > Anathapindika

Có những từ vừa âm vừa nghĩa

Xá lợi tử > Sariputta,

Có những từ mang tính biến cải

Bồ Đề Đạo Tràng > Bodhi-Gaya, Tâm vương > citta, tâm sở> cetasika

Có những từ gần như bỏ hẳn từ gốc

Sarnath > Lộc Uyển,

Có những từ được dùng nhiều dạng

Gijjagutta < t =" Linh" n =" Linh" t =" Phật"> Buddha, Níp bàn = Niết bàn > Nibbana

Có những từ được phiên âm để nó lên ý nghĩa đặc biệt

Bát nhã > panna, Mạt na > ý, An ban thủ ý

Có những từ lấy tên ngày nay tiện hơn tên đã dịch

Pataliputta > Hoa Thị Thành = Patna

III. Người Xưa Chốn Cũ

Xin cho biết sự khác biệt giữa những địa danh: Baranasi, Sarnath, Lộc Uyển, Isipatana.


Ba địa danh Baranasi, Isipatana, và Migadāya đều được nhắc đến trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasutta). Riêng từ Sarnath không hề được nhắc đến trong kinh điển tiếng Sanskrit cũng như tiếng Pālī, vì đây là tên hiện đại dành cho địa danh này. Bārān.asī là tên của thủ đô nước Kāsi. Đây là một thành phố công thương nghiệp có lịch sử lâu dài nằm bên bờ sông Hằng. Isipatana nghĩa là chỗ trú của các vị ẩn sĩ, chỉ cho một khu vực nhỏ hơn gần thành phố Bārān.asī.

Còn chữ Migadāya nghĩa là Lộc Uyển hay Vườn Nai, là chỗ nhà vua để cho loài nai được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. Như vậy ba địa danh này có mối quan hệ từ lớn đến nhỏ, xa đến gần, nói một cách dễ hiểu, như là một thành phố, đến một quận và một công viên trong quận đó.

Câu văn “Eka.m samaya.m Bhagavā Bārā.nasiya.m viharati Isipatane migadāye” giới thiệu nơi Đức Phật thuyết bài Kinh Chuyển Pháp Luân có thể được dịch là "Một thuở Đức Thế Tôn ở tại Vườn Nai, chỗ trú của các vị ẩn sĩ, gần thành Bārā.nasī."

IV. Chữ và nghĩa

Văn nghĩa cụ túc là thế nào?
Cụm từ văn nghĩa cụ túc (Sāttha.m sabyañjana.m kevalaparipu.n.na.m) Trong kinh điển rất thường dùng để tán thán sự lập ngôn thuyết pháp của Đức Phật: Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc...
Cụm từ nầy nghĩa là “đầy đủ về ý nghĩa và mạch văn”.
Đức Phật thuyết pháp, lời nói của Ngài nghĩa cụ túc (Sāttha.m), tức là có ý nghĩa thâm sâu, có tính hướng thượng, giúp người nghe thành tựu lợi ích. Lời thuyết pháp của Đức Phật văn cụ túc ( sabyañjana.m), tức là từ ngữ dùng chính xác, đúng ngữ pháp văn phạm, mạch lạc hệ thống trình bày. Gọi chung là văn nghĩ cụ túc.

V. Học và hỏi

Phát âm tiêng Phạn không đúng giọng có ảnh hưởng gì đến việc tụng kinh không?

V. Đố Vui

1/ Từ ngữ kinh điển trong tiếng phạn, người ta thường áp dụng cách nào để dễ đọc hiểu:
a. Phiên âm, như níp bàn v.v...
b. Dịch nghĩa, như giác ngộ v.v...
c. Giữ nguyên văn tự không dịch cũng không phiên âm
d. Tùy theo trường hợp, thường đọc âm hay thường dịch nghĩa.

2/ Đọc kinh điển từ ngữ dịch nghĩa, hay từ phiên âm, hay từ nguyên ngữ, sẽ có lợi ích trí tuệ cho độc giả:
a. Đọc từ ngữ phiên âm sẽ có lợi ích, vì linh thiêng như chú thuật.
b. Đọc từ ngữ phiên dịch sẽ có lợi ích, vì hiểu nghĩa.
c. Đọc từ ngữ nào cũng được, nếu quen dùng và đã biết ý nghĩa.
d. Cả ba trường hợp đều đúng.

3/ Trong mười hồng danh của Đức Phật có hồng danh nào được đọc âm mà không dịch nghĩa:
a. Ưng cúng (Araha.m)
b. Thiện thệ (Sugato)
c. Phật (Buddho)
d. Thế Tôn (Bhagavā).








Monday, September 04, 2006

Lớp giảng Phật Giáo Sử. Ngày 04 tháng 09, 2006

Giảng sư: Ni Sư Liễu Pháp.

Cuộc đời Đức Phật . Phần II: Sau ngày thành đạo

Tác giả P. V. Bapat
Việt dịch: Hữu Song Nguyễn Đức Tư



I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.

Đức Thế Tôn thành đạo năm ngài ba mươi lăm tuổi. Được xem là một bậc đạo sư trẻ thời ấy nhưng Ngài đã khởi đầu con đường hoằng pháp bằng sự cảm hoá và thu nhận những đệ tử lỗi lạc vào Tăng chúng. Đồng thời Ngài cũng đón nhận sự quy ngưỡng của những vi vua có ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ. Có thể nói thời bình minh của Phật Pháp ghi đậm nét những thành tựu lớn trong sự hoằng đạo của Đức Phật.

II. Nội dung chính

Xin đơn cử những điểm chính của bài học hôm nay?


Thâu nhận 1000 đệ tử tại Uruvela

Ca Diếp (Kassapa) ở Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela), một Bà la môn thờ Thần Lửa, tóc bện, đang làm lễ cúng tế thì được Đức Phật thực hiện một phép mầu. Những người Bà la môn không thể nhóm lửa lên được nếu không được Đức Phật cho phép. Một trận lụt lớn đã xảy ra khi họ đang nhóm lửa. Tuy nhiên, Đức Phật đã làm phép cứu thoát cho những người tế lễ. Sau đó Ca Diếp cùng các tín đồ của ông ta gia nhập vào Tăng đoàn (Sangha). Cùng với tất cả những người này, Đức Phật đến đồi Tượng Đầu (Gayasirsa) và Ngài đã có bài giảng nổi tiếng về sự đốt cháy. Từ đồi Tượng Đầu, Ngài đi tiếp đến Vương Xá (Rajagaha), kinh đô nước Ma-kiệt-đà để giữ trọn lời hứa với vua Tần-bà-xa-la (Bimbisara). Vị vua này đã dâng cúng Tăng đoàn rừng trúc của hoàng gia để làm tu viện.

Hai thượng thủ thinh văn

Tại kinh đô nước Ma-kiệt-đà có một người tu sĩ khổ hạnh là Sanjaya với một số đông môn đệ, trong đó có Xá-lợi-phất (Sariputta) và Mục-kiền-liên (Moggallana). Xá-lợi-phất từng được nghe từ Ngài Assaji, một thánh đệ tử của Đức Phật, bài kệ như sau:
“Muôn vật từ duyên sinh
Cũng do duyên mà diệt
Bậc giác ngộ tuyệt vời.
Đã từng như vậy thuyết.”


Khi đã hiểu hết ý nghĩa của bài kệ trên qua Assaji, Xá-lợi-phất trở thành môn đệ của Đức Phật. Mục-kiền-liên cũng làm theo ông. Tăng đoàn được tăng cường thêm hai Bà la môn lớn, họ đều trở thành những đệ tử hàng đầu của Giáo chủ. Xá lợi của hai Ngài đến nay vẫn còn được lưu giữ và được thờ cúng tại nhiều thánh địa.

Phật Pháp truyền vào Kosala (Kiều Tát La)

Số tín đồ thế tục cứ tiếp tục tăng thêm nhanh chóng. Cấp-cô-độc (Anathapindika), một thương gia giàu có ở Xá-vệ (Savatthi) đã mua lại của Thái tử Kỳ-đà (Jeta) một khu vườn với số vàng lát kín cả mặt đất và dựng lên một tu viện, gọi là Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên (Jetavana Vihara), để cúng dường cho Tăng đoàn. Hoàng đế Ba-tư-nặc (Pasenadi) nước Kiều-tất-la, một phu nhân giàu có tên Visakha và nhiều nhân vật nổi tiếng của nước Kiều-tất-la đều trở thành môn đệ của Đức Phật. Sau đó, Ngài đi đến thành Vương-xá (Rajagaha), tại đây một ngự y là Jivaka Kumarabhrtya trở thành đệ tử và chăm sóc sức khoẻ cho Đức Phật và Tăng chúng.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Xin cho biết vài chi tiết về Uruvela? Có bao nhiêu vị đệ tử nổi tiếng thời Phật có tên Kassapa?


Danh từ “Uruvela” có nghĩa là “bãi cát lớn” (great sandbank). Uruvela thời Phật còn tại thế là một thị trấn nhỏ nằm cạnh sông Ni Liên Thuyền (Niranjara) thuộc vương quốc Ma Kiệt Ðà (Magadha), dưới quyền trị vì của vua Bimbisara. Trước khi chứng đạo giác ngộ, đức Phật đả trải qua sáu năm tu khổ hạnh ở đây. Và cũng tại nơi này, đức Bồ Tát khi chưa thành Phật đã nhận bát cháo sữa do tín nữ Sujata dâng cúng trong khi Ngài đang tu thiền định dưới gốc cây cổ thụ Ajapala.

Sau khi thành đạo và đến thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, đức Phật đã trở lại Uruvela để hóa độ cho ba anh em ông Ca Diếp theo đạo thờ lửa là Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa xuất gia tu hành và sau này cả ba vị đều chứng đắc quả A La Hán. Uruvela ngày nay tức làng Urel, cách sáu dặm từ thị trấn Gaya, trong quận Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ.

1. Mahā Kassapa xuất thân là con của một triệu phú gia ở Magadha. Sau khi xuất gia chẳng bao lâu ngài đắc quả A-La-Hán và trở thành một vị Ðại Ðệ-tử, tín-cẩn nhất của Ðức Phật. Ðại-Ðức Maha Kassapa có uy tín lớn, nên sau giờ Niết-Bàn của Ðức-Phật, Ngài đảm đương nhiều trọng-nhiệm: chủ-tọa lễ hóa-táng Ðức-Phật tại Kurinara và sau đó 100 ngày, chủ-tọa Ðại-hội Thánh-Tăng, kết-tập Tam-Tạng lần đầu tiên tại Rajagaha. Ngài được Đức Phật khen là tối thắng về hạnh đầu đà.

2. Kumāra-Kassapa vốn là con của một vị tỷ kheo ni. Vì được nhà vua nuôi dưỡng và vì ngài xuất gia khi còn thiếu niên, ngài được gọi là Kumàra-kassapa, dầu cho khi ngài đã lớn. Ngài được bậc Ðạo Sư ấn chứng cho là vị thuyết pháp lanh lợi đệ nhất.

3. Ba anh em Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa và Gaya Kassapa. Ba anh em ông là những người có danh vọng lớn ở Magadha, và là những đạo sĩ thờ thần lửa, tự cho mình đã chứng quả A La Hán. Sau khi Đức Phật dùng thần thông để hóa độ họ, ba anh em tin rằng chính Đức Phật mới là người đã chứng quả Thánh, chứ không phải là mình. Sau đó cả ba anh em Kassapa và 1.000 đệ tử đều xin xuất gia theo Phật. Uruvela Kassapa được Đức Phật khen là có đồ chúng nhiều nhất.

IV. Chữ và nghĩa

Thượng Thủ Thinh Văn nghĩa là gì? Tại sao gọi là đại thí chủ
?
Danh từ Thượng thủ thinh văn (aggasāvaka), nghĩa là vị đệ tử có vị trí tối cao. Trong số chư Thinh văn đệ tử Đức Phật, Tôn giả Sārīputta và Moggallāna là hai vị thượng thủ thinh văn tả hữu của Đức Phật. Vị trí nầy do phước nguyện của hai vị ấy từ đời quá khứ, không phải do Đức Phật phong tước hiệu.

Danh từ Đại thí chủ (Mahādāyaka), nghĩa là vị thí chủ lớn; nghĩa đen là vị thí chủ quan trọng. Đúng nghĩa vị đại thí chủ trong Phật Giáo phải là người có niềm tin Tam Bảo kiên định, có tâm hoan hỷ xã tài, luôn luôn đặt trọng tâm hộ pháp. Thuở Đức Phật hiện tiền, Ngài có hai vị đại thí chủ là ông thiện nam Anāthapin.d.ika và bà tín nữ Visākhā. Tuy nhiên, danh từ đại thí chủ cũng dùng để chỉ chung cho những người cư sĩ bố thí rộng rãi.

V. Học và hỏi

Đạo Phật không chấp nhận việc phân chia giai cấp trong xã hội Ấn là hợp lý. Vậy những vi vua và những người trí thức đến với Phật giáo trong thời ban sơ có đóng vai trò gì quan trọng không?

Không phân biệt giai cấp có nghĩa là quan niệm rõ ràng là sự tu tập nội tâm và khả năng giác ngộ không tùy thuộc và giai cấp sang hèn. Đức Phật đã cho phép những người thuộc mọi giai cấp trở thành thành viên của Tăng Đoàn. Dù vậy chúng ta không thể phủ nhận sự thật là sự quy ngưỡng Tam Bảo của những vua chúa, các nhà trí thức, những người giàu có đã là những yếu tố quan trọng cho sự quảng bá Phật Pháp sâu rộng ở bất cứ thời nào

VI. Đố Vui

1. Qua câu chuyện Đức Phật tiếp độ 1000 vị đạo sĩ thờ lửa Uruvelakassapa, hãy nhận xét Đức Phật đã dùng loại thần thông gì để thu phục họ:


a. Biến hóa thần thông.
b. Tiên tri thần thông.
c. Giáo hóa thần thông.
d. Gồm cả ba loại thần thông.

2. Hai vị thượng thủ thinh văn của Đức Phật là Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, được giác ngộ chân lý do ai là thầy khai đạo cho hai vị ấy:

a. Chính Đức Phật.
b. Tôn giả Assaji (Mã Thắng).
c. Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca Diếp).
d. Khổ hạnh giả Sañjaya.

3. Ngôi chùa ở tại Xá vệ (Sāvatthī) do trưởng giả Cấp Cô Độc xây cất cúng dường Đức Phật. Ngôi chùa ấy có tên là:

a. Kỳ viên tự.
b. Bố kim tự.
c. Kỳ đà lâm.
d. Cả ba tên gọi đều đúng.


Sunday, September 03, 2006

Lớp giảng Phật Học Chuyên Ðề ngày 03 tháng 09, 2006
Giảng sư: TK Tuệ Quyền
Làm Quen Với Tam Tạng Kinh Điển
Phần II: nên đọc kinh điển như thế nào?

http://minhhanhdp.brinkster.net/access_to_insight/BefriendingTheSuttas.htm


I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.


Để tiếp thâu hầu hết những gì bạn nghiên cứu nơi kinh điển, có thể là một điều hữu ích khi để ý vài nguyên lý căn bản trước khi bạn thật sự bắt đầu đọc, và một khi bạn bắt đầu đọc, sẽ có một vài câu hỏi phát khởi trong tâm bạn.

II. Nội dung chính

Kinh điển nào cần đọc?


Không có gì là "tuyệt đối" trong việc dịch thuật.

Đừng quên rằng Thánh Điển Pali đã được ghi chép bằng ngôn ngữ Pali, không phải bằng ngôn ngữ Anh văn. Không một bài giảng nào trong cuộc đời hoằng Pháp của Đức Phật mà Ngài nói đến "Suffering" (đau khổ) hoặc "enlightenment" (giác ngộ); để thay cho chữ dukkha và nibbana. Hãy ghi nhớ rằng,tất cả những bản dịch Anh văn đã được sửa chữa và chế biến bởi các dịch giả để cho phù hợp với bài kinh - Một vài người đã thấm nhuần sâu xa trong văn hoá của họ trong một giai đoạn nào đó, và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của họ đã không thể nào tránh khỏi làm thay đổi bản dịch. Những bản dịch của người Anh vào cuối thế kỷ 19th và đầu thế kỷ 20th, thì nghèo nàn và không sáng sủa đối với chúng ta ngày hôm nay, 100 năm về sau từ hôm nay, những bản dịch ngày nay chắc chắn sẽ trở thành xưa cổ. Dịch thuật, giống như người vẽ họa đồ cố gắng làm một đồ án vòng quanh trái đất lên trên tờ giấy bằng phẳng, đó là một nghệ thuật không hoàn hảo.

Điều tốt nhất là đừng chấp nhận đặc biệt bất cứ một bản dịch nào, không một chữ nào hay bài kinh nào. Chỉ vì, một dịch giả dịch chữ "suffering" đồng nghĩa với dukkha hoặc chữ "Unbinding" với chữ nibbana, nó không có nghĩa là bạn phải chấp nhận những bản dịch đó là chân ly'. Hãy thử dùng những chữ đó, để xem chữ nào thích hợp với bạn. Hãy chừa khoảng trống cho sự hiểu biết của bạn thay đổi và trưởng thành, và trau dồi thiện ý để suy xét những bản dịch lệch lạc. Có thể, nhiều lần, sự ưa thích của bạn sẽ thay đổi (thí dụ, bạn có thể tìm thấy chữ "stress" và "quenching" có ích hơn). Nên nhớ rằng bất cứ bản dịch nào cũng chỉ là để thuận lợi - nhưng là tạm thời - bạn phải dùng cho đến khi bạn có thể tự hiểu ý tưởng mà nó diễn tả .

Nếu bạn thật sự nghiêm túc trong việc muốn hiểu bài kinh nói về vấn đề gì, bạn hãy chịu khó học tiếng Phạn. Nhưng cũng có một cách tốt hơn là: đọc các bản dịch và đem giáo lý áp dụng vào sự thực hành cho đến khi bạn nhận được kết quả như lời Đức Phật giảng dạy. Thuần thục Pali thì tốt nhưng không phải là điều kiện tiên quyết để Giác Ngộ.

Không một bài kinh nào chứa đựng tất cả giáo ly'.

Để gặt hái những lợi lạc lớn lao từ kinh điển, hãy nghiên cứu tỉ mỉ nhiều kinh điển khác nhau, không chỉ một vài bài kinh. Các bài pháp về chánh niệm tỉnh giác, thí dụ, mặc dù có giá trị to lớn, lại chỉ tiêu biểu phần nhỏ của toàn thể giáo pháp của Đức Phật: Nguyên tắc là: bất cứ khi nào bạn nghĩ rằng bạn hiểu được tất cả giáo pháp của Đức Phật là gì, hãy nắm lấy điểm đó và đào sâu hơn vào.

Đừng lo lắng về nội dung bài kinh có thật sự từ kim khẩu của Đức Phật lịch sử hay không.

Không có cách nào có thể chứng minh điều đó. Hãy chỉ đọc kinh điển, hãy thực hành giáo pháp những gì bạn có thể làm, và quan sát cái gì xảy ra.

Nếu bạn thích một quyển kinh, hãy đọc lại.

Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh lôi cuốn bạn theo một cách nào đó khi lần đầu bạn đọc nó. Hãy tin cậy vào phản ứng này và hãy đọc lại; nghĩa là quyển kinh có điều gì đó quí giá để dạy cho bạn và bạn đã chín mùi để tiếp nhận những giáo pháp mà nó đem lại. Đôi khi đọc lại những quyển kinh bạn nhớ đã thích hàng nhiều tháng hoặc nhiều năm, bạn có thể phát hiện ở chúng một số sắc thái mà trước kia bạn đã bỏ qua.

Nếu bạn không thích đọc một quyển kinh, hãy đọc lại .

Đôi khi bạn sẽ bắt gặp một quyển kinh chỉ làm bạn bực bội. Hãy tin cậy vào phản ứng này; có nghĩa là quyển kinh đó có điều gì giá trị để dạy cho bạn, dù rằng có thể là bạn chưa sẵn sàng cho điều đó. Hãy làm dấu ở đấy và bây giờ hãy tạm để cuốn kinh sang môt bên. Một vài tuần,tháng, năm sau, hãy cầm nó lên và thử đọc lại. Có lẽ một ngày nào đó bạn sẽ kết nối được với nó

(còn tiếp)



III. Người Xưa Chốn Cũ (NS LP)

Sarnath là nơi nào? Khujjatàrà là ai?

Sarnath (Lộc vương) là tên mới thay cho Migadàya (Lộc Uyển) hay Rishipatana. Chữ Sarnath không có trong văn chương Pali hay Sanskrit. Kinh Pàli thường dùng chữ Migadàya hay Isipatana, nhiều khi dùng cả hai Migadàya và Isipatana. Ispatana, chữ Sanskrit là Rsipatana, nghĩa là chỗ trú của các vị ẩn sĩ. Còn chữ Migadàya nghĩa là Lộc uyển, là chỗ Vua Ba-la-nại để cho loài lộc được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. Tự nhiên chỗ này trở nên lý tưởng cho những vị ẩn sĩ muốn xa lánh thành thị.Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại đây. Do đó, Sarnath là thánh tích quan trọng bậc nhì sau Buddhagaya. Sarnath được xem là bất động xứ (avijahitat.t.hànàni) vì tất cả các đức Phật đều dùng chỗ này để thuyết pháp lần đầu tiên.

Khujjutarà là nữ tỳ của hoàng hậu Sàmàvati. Một lần đến mua hoa ở nhà anh làm vườn Sumana, bà được nghe Đức phật thuyết pháp và chứng đắc Sơ quả. Mỗi ngày bà đều đi nghe Đức Phật thuyết pháp, ghi nhớ, và khi trở về hoàng cung bà đã thuyết pháp cho hoàng hậu cùng năm trăm cung nữ nghe y như Thế Tôn đã thuyết. Kết quả tất cả những người này cũng đều chứng đắc Sơ quả. Bà được Đức Phật khen là tối thắng về đa văn (bahussutànam.) trong số các nữ cư sĩ. Những bài kinh trong bộ Itivuttaka (Kinh Phật thuyết như vậy) là những bài kinh mà Khujjutàra đã nghe từ Đức Phật và trùng tuyên lại cho hoàng hậu Sàmàvati cùng năm trăm cung nữ.

IV. Chữ và nghĩa (TT Tue Siêu)

Xin cho định nghĩa các chữ văn huệ, tư huệ và tu huệ


Văn huệ hay trí văn (Sutamayapaññà) là trí tuệ có được do nhờ học hỏi từ nơi người khác. Như nghe thầy dạy, nghe bạn hữu đàm luận... thậm chí là học từ sách vỡ kinh điển.

Tư huệ hay trí tư (cintàmayapaññà) là trí tuệ có được do suy luận, thẫm xét, tự nhận thức. Do học mà biết, đó là văn huệ; do suy nghĩ mà hiểu, đó là tư huệ.

Tu huệ (bhàvanàmayapaññà) là trí tuệ có được do tu chứng. Khi một người tu hành đắc chứng được thiền định, đạo quả thì trí tuệ bừng sáng, liễu tri được các pháp chưa từng được học, chưa từng suy nghĩ

V. Học và hỏi

Nghi ngờ giáo pháp có tội không?

Có hai sự nghi ngờ. Sự nghi ngờ thứ nhất là nghi vấn trước những điều khó hiểu hay đáng nghi. Đặt câu hỏi để tìm câu trả lời chứ không phải để phủ lên vấn đề cái nhìn tiêu cực. Đây là sự nghi ngờ "lành mạnh" thuộc vì trí tuệ. Sự nghi ngờ thứ hai là thái độ lưỡng lự, phân vân, không quyết định. Thông thường thì đây là một thói quen "trù trừ" thuộc về phiền não nghi hoặc. Thái độ nghi ngờ thứ nhất tốt cho người học đạo. Thái độ sau là thứ hoài nghi có hại. Nêu ghi nhớ một điều là một người vấn nạn bằng cách nêu lên những câu hỏi có tính xuyên tạc là tà kiến hơn là hoài nghi.

V. Đố Vui

1. Danh từ “kinh điển” có ý nghĩa chính xác là nghĩa nào dưới đây:


a. Tạng kinh trong giáo lý Phật Giáo.
b. Gồm ba tạng Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp.
c. Tất cả những gì ghi trong Tam Tạng và sách chú giải.
d. Nói chung về văn hóa sách báo.

2. Trong sự học hỏi giáo lý của người phật tử phải học như thế nào là đúng cách:

a. Phải nghe theo lời giảng của những vị thầy.
b. Không nên nghe theo lời giảng của những vị thầy.
c. Tự mình đọc hiểu kinh điển là đủ.
d. Dùng trí nhận định khi đọc hoặc nghe giảng.

3. Ngôn ngữ có cần thiết hay không cần thiết cho một người tầm cầu sự giải thoát:

a. Không cần, vì sự giải thoát vượt ngoài ngôn ngữ lý luận.
b. Rất cần, vì sự trình bày con đường giải thoát là phải nhờ phương tiện ngôn ngữ.
c. Tùy lúc, giai đoạn tìm hiểu con đường thì cần ngôn ngữ; giai đoạn thực hành để chứng đạt thì không cần ngôn ngữ.
d. Câu b và c đúng.

Saturday, September 02, 2006

Lớp Luật Nghi Cư Sĩ. Ngày Thứ Bảy 02 tháng 09, 2006

Giảng sư: ÐÐ Pháp Ðăng

Thiện hữu, ác hữu

Tài liệu: Trích "Cư sĩ giới pháp". Tỳ khưu Giác Giới (Bodhisīla Bhikkhu).

I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.

Thân cận dẫn đến ảnh hưởng, tiêm nhiễm. Dù trong đạo hay ngoài đời thì bạn lành vẫn là trợ duyên quan trọng cho sự tăng tiến. Đời sống người cư sĩ vốn tiếp cận với muôn người. Biết chọn bạn kết giao là yếu tố thành công. Đức Phật đặc biệt có những lời dạy soi sáng về điểm nầy.

II. Nội dung chính

Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy?


BỐN HẠNG NGỤY BẰNG HỮU, HẠNG BẠN GIẢ DỐI, KHÔNG PHẢI BẠN TỐT
Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:

1- Bạn vụ lợi (Aññadatthuhara), là người có tính tham lam: gặp gì cũng muốn lấy, cho ít đòi hỏi nhiều, vì sợ mới làm theo, giao du vì mưu lợi.

2- Bạn khẩu biện (Vacīparama), là người chỉ biết nói giỏi: tỏ thân tình việc đã qua, tỏ thân tình việc chưa đến, mua chuộc tình cảm bằng lời ngọt, khi bạn hữu sự thì tỏ ra bất lực.

3- Bạn dua nịnh (Anuppiyabhā.nī), là người nịnh bợ ton hót: đồng tình việc làm xấu, bất đồng việc làm tốt, ca tụng ở trước mặt, xuyên tạc phía sau lưng.

4- Bạn trụy lạc (Apāyasahāya), là người tính hư hỏng: say sưa rượu chè, du hành chơi đêm, hoang dâm đàng điếm, đam mê cờ bạc. -- D.III.185.

BỐN HẠNG CHÂN BẰNG HỮU (SUHADAMITTA), HẠNG BẠN CHÂN TÌNH, HẠNG BẠN TỐT

Điều này cũng được Đức Phật thuyết cho gia chủ tử Sin°gālaka:

1- Bạn tán trợ (Upakārakamitta), là người bạn giúp đỡ nhau: bảo vệ nhau khi bất cẩn; giữ tài sản của bạn sơ suất, làm chỗ nương tựa khi có sợ hãi, nhiệt tình giúp đỡ khi bạn bè hữu sự.

2- Bạn đồng cam cộng khổ (Samānasukhadukkhamitta), là người chung vui chung khổ: tỏ chuyện thầm kín của mình, giữ kín chuyện bí mật của bạn bè, không bỏ nhau khi gặp hoạn nạn, dám hy sinh vì bạn.

3- Bạn khuyến lợi (Atthakkhāyīmitta), là người bạn khuyên nhắc lợi ích: can ngăn điều ác, khuyến khích điều thiện, nói cho nghe pháp chưa từng nghe, chỉ bày cho biết con đường thiên giới.

4- Bạn thân tình (Anukampakamittta), là người bạn chí cốt tình nghĩa: không vui khi bạn bè gặp nạn, vui mừng khi bạn bè gặp may, phản đối người nói xấu bạn, khích lệ người khen tụng bạn. -- D. III. 187.

III. Người Xưa Chốn Cũ

Visàkhà là người thế nào? Pubbaràma là ngôi chùa ở đâu?


Bà Visàkhà sanh trưởng tại thành Bhaddiya, trong vương quốc Anga. Cha bà là Dhananjaya, một triệu phú và là quan giữ kho của nhà vua và mẹ bà là Sumanadevi. Lúc vừa lên bảy, bà nhiệt thành lắng nghe những lời giảng giải rõ ràng và trong sáng của Đức Bổn Sư và chứng đắc tầng thánh thứ nhất (nhập lưu). Theo tập tục thời bấy giờ, vào năm lên mười sáu tuổi bà được gả cho Punnavaddhana, con của quan giữ kho tên Migara. Nhờ bà mà toàn thể gia quyến nhà chồng trước đây là tín đồ của giáo phái Nigantha đều theo về với Đức Phật, và ông cha chồng chứng đắc Tu Đà Hườn. Vì lẽ ấy mà bà được tôn vinh là ‘Mẹ của Migara’, mặc dầu bà chỉ là con dâu.
Bà Visàkhà nổi danh là vị nữ thí chủ quan trọng nhất của Đức Phật và tăng chúng. Bà cho xây dựng ngôi chùa Pubbàràma rộng lớn và dâng đến Đức Phật và chư Tăng. Niềm tin và lòng thỏa thích phục vụ đạo pháp của bà thật vô bờ bến.

Pubbàràmà hay Đông Phương Tự là ngôi chùa do bà thí chủ Visàkhà xây ở phía đông cổng thành Sàvatthi để dâng cúng đến Đức Phật và chư Tăng. Ngôi chùa được biết nhiều với tên Migaramatupàsàda (Lộc Mẫu giảng đường). Trong suốt thời gian Đức Phật ở Sàvatthi, Ngài xử dụng luân phiên hai ngôi chùa Kỳ Viên Tự và Đông Phương Tự. Ban đêm Ngài nghỉ tại chùa Kỳ Viên, ban ngày vào buổi trưa Ngài trú tại Lộc mẫu giảng đường hoặc ngược lại. Chư Tăng ở tại hai ngôi chùa , chỉ riêng Đức Phật luân phiên như vậy. Khoảng cách giữa hai ngôi chùa Kỳ Viên và Đông phương tự không xa, ước tính cách thành Xá Vệ 100m và Lộc mẫu giảng đường nằm cách khoảng 150m. Đức Phật nhập hạ sáu lần ở ngôi chùa này.

IV. Chữ và nghĩa ( Chờ câu trả lời của TT Tuệ Siêu)

Thế nào là bạn (mitta) trong định nghĩa của kinh điển?

Trong Phật học nói riêng và văn học Ấn nói chung thì quan niệm về bằng hữu là một đề tài quan trọng. Chữ mitta có nghĩa đen là thân thiện. Nói rộng hơn là người nào dành cho chúng ta sự thân tình và lợi ích thì đúng nghĩa là bạn. Nói theo Phật Pháp là người nên thân cận. Trong văn hoá Ấn thì một vị thầy, một người mẹ, một quí nhơn gặp được trên đường tất cả đều có thể gọi là thiện hữu. Thường gần bạn lành (kalyāna-mitta) là một yếu tố quan trọng trong sự tu tập Phạn ngữ mettà (từ tâm) có liên hệ với chữ mitta (bạn)

V. Học và hỏi

Nếu người Phật tử chỉ thận cận bạn tốt thì ai cứu độ người xấu?

Cảm hoá người xấu và thận cận người xấu là hai việc khác nhau. Thân cận hay giao du nói lên sự ưa thích, xu hướng như câu "mã tầm mã, ngưu tầm ngưu". Tất nhiên có một số người đủ bản lãnh để "gần mực mà không đen" nhưng với đa số sự tiêm nhiễm là điều khó tránh. Có rất nhiều điều mà mỗi cá nhân có thể làm cho cuộc đời nhưng tự thân phải có đủ nghị lực, sáng suốt để là "bàn tay lành lặn không sợ thuốc độc". Với phần đông thì sự an lạc, vô sự bản thân là điều kiện tốt để cống hiến cho đời hơn là những rắc rối phiền phức.

V. Đố Vui
1. Xem cha mẹ, thầy tổ như bạn có phải lại điều bất kính chăng?

a. Đúng vậy chỉ có người ngang với mình mới là bạn được
b. Không hẳn. Nếu bạn được nghĩa là người đối với mình bằng lòng từ và sự chân thật
d. Đúng là điều nên phân biệt như Đức Phật dạy cha mẹ là phương đông, bằng hữu là phương tây.
c. Xem nhau là bạn thì vui hơn

2. Tai sao thân cận bạn lành là điều quan trọng trong sự tu tập?

a. Vì tự lực không đủ mà phải có tha lực
b. Vì bạn lành giúp ta có cái nhìn khách quan về bản thân
c. Vì bạn lành có ảnh hưởng tốt đối với hành vi, tư tưởng của mình
d. b và c đúng

3. Đức Phật ca ngợi đời sống độc cư lại nói rằng thân cận thiện hữu là toàn phần của Phạm hạnh như vậy Ngài có mâu thuẫn chăng?

a. Không mâu thuẩn vì một điều dạy cho hàng thượng căn, một điều dạy cho hàng độn căn
b. Mâu thuẩn. Có lẽ kinh điển bị tam sao thất bổn
c. Không mâu thuẩn. Thân cận bạn lành không hẳn là từ bỏ độc cư
d. Thích điều nào thì làm điều đó không có gì là mâu thuẫn

.

Friday, September 01, 2006

Lớp A Tỳ Đàm Ngày Thứ Sáu 01 tháng 09, 2006

Giảng sư: TK Tuệ Siêu

Tam Đề Nội Phần

I. Đại lược

Xin cho biết đại lược về bài học.


Tam đề nội phần: Tất cả Pháp Nội Phần (Ajjhattā dhammā) . Tất cả Pháp Ngoại phần (Bahiddhā dhammā). Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần (Ajjhatta bahiddhā dhammā)

Tên đầu đề lấy pháp đầu trong ba pháp (chiết bán), không bao gồm hết pháp chân đế (hữu dư). Chủ quan và khách quan luôn ảnh hưởng lớn đến nhận thức. Chủ quan thường liên hệ đến ngã tính, và từ đó, ảnh hưởng sâu xa đến cuộc sống. Một tính xấu tìm thấy ở ngưòi khác thường bị chỉ trích nhưng nếu là tánh xấu của mình là chuyện khác. Phiền não ngã mạn được A Tỳ Đàm định nghĩa là so sánh giữa mình và người. Sở chấp nhân ngã bĩ thử cũng từ đấy khởi sinh.

II. Nội dung chính

Những điểm quan trọng gì được nói đến trong bài học nầy?


Nội và ngoại phần không nhất thiết nằm trong ý niệm không gian

Không gian chỉ có thể nói trong vật chất (sắc pháp). Những pháp ở đây gồm cả tâm (danh pháp). Khi nói đến danh pháp thì không nói là ở vị trí nầy hay khoảng cách kia. Ý niệm về nội giới và ngoại giới ở đây hoàn toàn không thuộc không gian.

Có những phạm trù bao gồm cả nội và ngoại phần

Những tạp niệm nhân ngã bĩ thử đến từ sự phân biệt ta với người. A Tỳ Đàm khẳng định nếu nhìn từ góc cạnh nào đó thì tất cả pháp hữu vi có thể lãnh hội như pháp nội và ngoài phần. Ở kinh tạng có những Phật ngôn gần với ý nghĩa nầy nhất khi Đức Thế Tôn dạy: nầy các tỳ kheo ta tuyên bố trong tấm thân sự khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ.

Khi Niết Bàn được minh định là ngoại phần thì là đảo lộn nhiều giá trị tự hữu

Nói đến vô dư niết bàn thì nhiều luận gia xem đó là một tự hữu nếu không chấp nhận đó là một cõi. Niết bàn tại tâm là một thí dụ. Khi nói Niết Bàn là pháp ngoại phần tất nhiên phủ nhận tất cả giá trị tự hữu. Đây là điều tạo nên tranh luận lớn mà đức Phật từng dạy không cần thiết để biết qua sự im lặng trước câu hỏi Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết.

III. Đề Pháp và Chi Pháp

Những pháp nào được liệt kê trong ba pháp của thể tài nầy?


i. Tất cả Pháp Nội Phần (Ajjhattā dhammā) là những Pháp phát sinh trong tự thân nầy.

Tất cả Pháp Nội Phần là:
a) Tâm: 121 Tâm (nói chung)
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh
c) Sắc pháp: 28 sắc pháp


ii. Tất cả Pháp Ngoại phần (Bahiddhā dhammā) là những Pháp chơn đế ngoài ra Ngũ uẩn bên trong tức là Ngũ uẩn bên ngoài và Níp-Bàn.
Tất cả Pháp Ngoại phần là:

a) Tâm: 121 Tâm (bên ngoài).
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh(bên ngoài).
c) Sắc pháp: 28 Sắc pháp (bên ngoài).
d) Níp-Bàn.

iii. Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần (Ajjhatta bahiddhā dhammā) nghĩa là những pháp Chơn Ðế hữu vi có sanh trong tự thân và ngoài ra tự thân, tức ám chỉ Ngũ uẩn nói chung nếu đứng về chủ quan thì là Nội Phần, và đây hạn chế không lấy Chơn đế vô vi Níp- Bàn.

Tất cả Pháp Nội và Ngoại phần là:

a) Tâm121 thứ Tâm (nói chung)
b) Thuộc tánh: 52 Thuộc tánh (nói chung)
c) Sắc pháp: 28 Sắc pháp (nói chung)

IV. Chữ và nghĩa (TT TS)

Chủ thể, khách thể có khác với năng duyên và sở duyên không?


Chủ thể và khách thể có nghiã là vai trò bên ngoài và bên trong; chủ thể và khách thể có thể là độc lập không liên quan gì với nhau

Năng duyên và sở duyên có nghĩa là một yếu tố trợ giúp và một yếu tố được trợ giúp,
cái này trợ cái kia sanh ra, gọi cái này là năng duyên cái kia là sở duyên. Năng và sở có quan hệ trong phạm trù nhân quả. Do đó, danh từ chủ thể - khách thể và năng duyên - sở duyên khác nhau, không giống nhau.

V. Học và hỏi ( TT GÐ)

Tại sao trong thiền học Tứ Niệm Xứ lại nhấn mạnh mệnh đề: lấy thân quán thân, lấy thọ quán thọ, lấy tâm quán tâm, lấy pháp quán pháp.

Ðáp: Trong Trung Bộ Kinh bài kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật đã khẳng định: "Tứ Niệm Xứ là con đường độc nhất" (Eka yāno maggo) đưa đến sự giác ngộ.

Thiền học bao gồm cả thiền chỉ (Samatha) và thiền quán (Vipassanā).

Thiền chỉ tịnh (Samatha) là chú niệm trên một đề mục. Thiền quán(Vipassanā) là thẩm sát Tam Tướng (Vô thường - khổ - vô ngã) dựa trên Danh Sắc.

Được gọi là một chúng sanh là do năm uẩn (Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn và hành uẩn) cấu hợp thành mà nói tóm gọn là Danh và Sắc. Vị hành giả tu tập thiền Tứ Niệm Xứ là nhìn lại sự biến đổi về vật chất cũng như tinh thần của tự thân.

- Quán thân trên thân là lấy sắc uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác với sự Vô thường - khổ - vô ngã của sắc uẩn.

- Quán thọ trên thọ là lấy thọ uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác thấy sự Vô thường - khổ - vô ngã khi tiếp xúc cảnh phát khởi thọ lạc, thọ khổ, thọ ưu, thọ hỷ, thọ xã.

- Quán tâm trên tâm là lấy thức uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác thấy sự Vô thường - khổ - vô ngã khi tâm hữu tham, vô tham, hữu sân, vô sân, hữu si, vô si.

- Quán pháp trên pháp là lấy tưởng uẩn và hành uẩn làm án xứ, chánh niệm tỉnh giác thấy sự Vô thường - khổ - vô ngã của pháp hữu vi. Thường xuyên suy niệm về Bốn đế, Thất giác chi ...

Vị hành giả quán tưởng thấy sự tạm bợ của Sắc pháp, thấy sự biến chuyển thay đổi của Danh pháp từ đó tu tập chuyên cần, thuần thục sẽ đạt đến đạo quả.

Đức Phật đã tuyên bố trong Trung bộ kinh: "Nhờ hiểu biết như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Ta đã biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành. Việc cần làm đã làm. Không còn trở lại trạng thái này nữa". Này Aggivessana, Đó là Minh thứ ba, Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt minh sanh, mê tối diệt ánh sáng, do ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần".


VI. Đố Vui

1. Cụm từ nào dưới đây là chi pháp của đề pháp nội phần (ajjhattā dhammā) ?


a. Nội tâm.
b. Nội thân.
c. Nội sắc.
d. Nội thần kinh.

2. Níp bàn là pháp gì trong nhóm đề pháp dưới đây:

a. Pháp nội phần (ajjhattā dhamma).
b. Pháp ngoại phần (bahiddha dhamma).
c. Pháp nội ngoại phần (ajjhattabahiddha dhamma).
d. Pháp ngoại nội phần (bahiddhajjhatta dhamma).

3. Có pháp nào không thuộc nội phần cũng không thuộc ngoại phần chăng ?

a. Pháp chế định.
b. Pháp vô sắc.
c. Pháp vô tưởng.
d. Không có.